Chương 2
Ánh đuốc đã soi đến tận càng xe, đỏ quạch trên tấm rèm vải xanh.
Uyển Ninh nghe rõ tiếng giày ủng giẫm lên bùn lép nhép, tiếng đao tuốt khỏi vỏ loảng xoảng, rồi tiếng A Phúc ấp úng thưa rằng đây là xe của phủ Lễ bộ thị lang, trong xe chỉ có tiểu thư nhà hắn cùng nhũ mẫu và một nha hoàn nhỏ.
Đến nước này thì chẳng còn thì giờ đâu mà cân nhắc nữa.
“Xin vương gia nằm sát xuống sàn xe,” nàng cúi xuống ghé sát tai chàng, hạ giọng thật thấp, “tiểu nữ đành phải mạo phạm rồi.”
Tiêu Trầm nhìn nàng thoáng chốc, không hỏi lại câu nào, chỉ nghiến răng nghiêng người nằm áp xuống. Uyển Ninh giật tấm chăn lông cừu trên ghế, trùm kín lên người chàng, rồi rút cây trâm trên đầu cho tóc xoã xuống vai, ngồi ghé ngay sát bên. Vạt váy lụa xanh của nàng xoè ra, phủ lên chỗ chăn còn gồ lên.
Dưới lớp chăn, mặt chàng áp vào bên hông nàng, hơi thở nóng hổi xuyên qua mấy lớp vải, phả đúng chỗ thắt lưng. Nàng nghiến chặt răng, ngồi im không dám xê dịch.
“Ma ma đổ hết chỗ rượu còn lại xuống sàn đi, lấy khăn lau máu trên tay con rồi vứt ngay bên chân con.”
Tôn ma ma run lẩy bẩy, nhưng vẫn làm theo. Mùi rượu mạnh bốc lên nồng nặc, át cả mùi máu tanh. Bích Đào ôm khư khư chiếc hòm thuốc vào lòng, mặt trắng bệch như tờ giấy bản.
Rèm xe bị hất tung bằng sống đao.
Một gã áo đen thò đầu vào, mặt bịt khăn, chỉ lộ đôi mắt ti hí. Ánh đuốc sau lưng gã soi rõ cảnh trong xe: một thiếu nữ tóc xoã rối bời, mặt xanh tái, người dựa vào lòng một bà lão. Dưới chân nàng, chiếc khăn lụa trắng loang lổ vết đỏ, vạt váy xanh cũng sẫm màu một mảng.
“Các người là ai?” Tôn ma ma ôm chặt lấy Uyển Ninh, giọng run lên vì giận nhiều hơn vì sợ. “Tiểu thư nhà ta đang đến kỳ, trong người không yên, vậy mà các người dám vén rèm xe khuê nữ nhà quan! Có tin lão thân về bẩm với lão gia, ngày mai lên tận phủ Kinh Triệu mà kêu oan không!”
Gã đàn ông liếc chiếc khăn dính máu, lại liếc xuống vạt váy, chân mày nhíu chặt, lộ rõ vẻ ghê tởm. Đàn ông đời này ai cũng kiêng thứ máu ấy, coi như dính phải là xui xẻo cả năm.
Thế nhưng gã vẫn chưa chịu buông rèm. Mũi đao chậm rãi thò vào, khều nhẹ vào mép chăn dưới chân Uyển Ninh.
Tim nàng như ngừng đập.
Dưới lớp chăn, một bàn tay khẽ áp lên mắt cá chân nàng. Năm ngón tay siết lại, không phải vì sợ, mà như muốn nhắc nàng đừng động đậy. Nàng biết bàn tay còn lại của chàng đã nắm sẵn thanh đoản kiếm giấu trong ủng, chỉ cần mũi đao kia nhấc thêm một tấc nữa thôi, máu sẽ đổ ngay trong khoang xe này.
Mũi đao nhấc góc chăn lên một chút, vừa đủ để lộ ra bàn chân nàng trong chiếc hài thêu, cổ chân trắng muốt dưới gấu váy.
Uyển Ninh cúi gằm mặt, hai tay túm chặt vạt áo, cả người co rúm như một tiểu thư khuê các lần đầu bị kẻ lạ nhìn thấy chân mình. Mà quả thật đây là lần đầu trong đời nàng gặp cảnh ấy, chẳng cần giả vờ, nước mắt đã tự trào ra.
“Đại ca!” Từ xa có tiếng người hô lên. “Bên khe suối phía bắc có vết máu, dấu chân đi về hướng núi!”
Gã đàn ông chửi một câu tục tĩu, rút đao về, buông rèm xuống.
“Đuổi theo mau!”
Tiếng vó ngựa dồn dập rồi xa dần, ánh đuốc nhạt đi rồi tắt hẳn trong màn mưa.
Trong xe không ai dám thở mạnh. Mãi đến khi A Phúc ở bên ngoài khẽ gọi một tiếng “tiểu thư, bọn chúng đi xa rồi”, Uyển Ninh mới nhận ra bàn tay trên cổ chân mình vẫn chưa buông. Ngón cái chàng đặt ngay chỗ xương mắt cá, hơi ấm truyền qua lớp tất lụa mỏng, nóng đến mức như sắp in dấu lên da.
“Vương gia,” nàng khẽ nói, giọng vẫn còn run, “bọn chúng đi rồi, xin ngài buông tay ra cho.”
Bàn tay ấy không rút về ngay. Ngón cái chàng miết chậm một đường dọc theo xương mắt cá, như để chắc rằng nàng vẫn còn nguyên vẹn, rồi mới thong thả buông ra.
Tôn ma ma vén chăn lên. Tiêu Trầm nằm nghiêng dưới sàn, mặt trắng như sáp, mồ hôi lạnh ướt đẫm hai bên thái dương. Vết thương trên lưng vừa băng đã lại rỉ máu, nhuộm đỏ một mảng vải. Vậy mà đôi mắt chàng vẫn mở, ngước lên nhìn nàng.
“Vết máu bên khe suối phía bắc,” chàng nói, hơi thở đứt quãng, “không phải là máu của ta.”
Uyển Ninh lặng im không đáp.
Lúc khiêng chàng lên xe, nàng đã dặn A Lộc cầm chiếc áo ngoài rách tả tơi của chàng, phi ngựa ngược về phía bắc một quãng, quệt máu lên mấy tảng đá ven suối rồi mới vòng lại theo xe. Khi ấy nàng cũng không chắc có dùng đến hay không. Chỉ là kiếp trước nghe người ta kể, mãi đến ngày thứ tư mới tìm thấy Nhiếp chính vương trong một hang đá phía nam, nên nàng đoán đám thích khách kia lùng sục suốt ba ngày mà vẫn chưa đoán ra hướng chàng đi. Nàng chỉ mong chúng đi xa thêm một chút.
“Tô tiểu thư,” Tiêu Trầm nhắm mắt lại, khoé môi khẽ động, chẳng rõ là cười hay không, “nàng càng lúc càng khiến ta tò mò đấy.”
Một lúc sau, A Lộc thúc ngựa đuổi kịp xe, ghé sát cửa sổ đưa vào một vật, nói là nhặt được bên đường, chỗ đám người áo đen vừa đứng. Đó là một tấm đồng bài nhỏ cỡ hai đốt ngón tay, dây đeo đã đứt, mặt trước chạm hình một con ưng ngậm vầng trăng khuyết.
Uyển Ninh cầm tấm đồng bài ấy, ngón tay lạnh toát.
Nàng đã từng nhìn thấy con ưng ngậm trăng này. Kiếp trước, theo Lục phu nhân đến phủ Thừa ân công cầu cạnh, nàng quỳ suốt hai canh giờ ở sân trước, đám gia binh đứng gác hai bên cổng, bên hông ai cũng đeo một tấm đồng bài y hệt như thế.
Thanh Khê trang nằm dưới chân núi Tây Sơn, là của hồi môn mẹ nàng mang theo khi về Tô gia. Trang không lớn, có hơn ba trăm mẫu ruộng, một khu vườn trà, mấy dãy nhà ngói cũ quây quanh một khoảnh sân lát đá xanh. Quản sự là Châu bá, theo hầu ngoại tổ nàng từ thuở còn buôn tơ lụa ở Hồ Châu, nay tóc đã bạc trắng, lưng đã còng, nhưng đôi mắt vẫn tinh anh lắm.
Xe về đến cổng trang thì trời đã tối mịt.
Châu bá cầm đèn lồng ra đón, vừa thấy hai hộ viện khiêng một nam tử máu me từ trên xe xuống thì sắc mặt đã đổi hẳn. Nhưng ông không hỏi một câu nào, chỉ quay sang dặn người nhà đóng cổng, tắt bớt đèn, rồi tự tay xách đèn dẫn đường đến gian Tây sương phòng ở viện sau.
“Viện này trước kia phu nhân dùng làm thư phòng, từ ngày phu nhân đi rồi thì chẳng ai bước vào nữa,” ông nói, giọng trầm khàn. “Người trong trang, lão nô sẽ dặn dò cẩn thận, tiểu thư cứ yên lòng.”
Uyển Ninh nhìn ông, sống mũi cay cay. Kiếp trước, nàng gả vào Lục gia chưa được một năm thì Thanh Khê trang đã bị bán đi trả nợ. Châu bá không chịu theo chủ mới, ôm bài vị của mẹ nàng về quê, chẳng bao lâu sau thì mất, nàng không kịp về đưa tang ông.
“Phải làm phiền Châu bá rồi.”
Đêm đầu tiên, Tiêu Trầm sốt cao.
Chất độc theo máu ngấm vào người khiến cả thân thể chàng nóng như hòn than. Chàng nằm sấp trên giường, mồ hôi thấm ướt cả gối, môi khô nứt nẻ, thỉnh thoảng lại nghiến răng đến bật ra tiếng.
Trước khi mê man, chàng còn gắng tháo chiếc nhẫn sắt đen trên ngón trỏ, nhét vào tay Uyển Ninh, đứt quãng dặn mấy câu: ở trấn Tây Sơn có một hiệu thuốc tên là Hồi Xuân đường, cứ đưa nhẫn này cho ông chủ, nói có cố nhân bị rắn cắn cần thuốc. Dặn xong thì ngất lịm.
Uyển Ninh không dám chần chừ. Nàng giao nhẫn cho Châu bá, dặn bá tự mình đi, đừng mang theo ai, cứ theo đường tắt qua vườn trà mà xuống trấn.
Châu bá đi rồi, trong phòng chỉ còn lại nàng, Tôn ma ma và người đàn ông nằm trên giường.
Theo lệ, khuê nữ chưa xuất giá tuyệt đối không được ở chung phòng với nam tử xa lạ, huống chi lại là ban đêm. Tôn ma ma nói đến khản cả cổ, cuối cùng bị Uyển Ninh hỏi lại một câu: “Nếu người này chết trong trang của mẫu thân con, ma ma nghĩ Tô gia còn giữ được bình yên không?” Bà mới chịu thôi, nhưng vẫn kéo một chiếc ghế đặt sát bên giường, tự mình ngồi canh, còn bắt Uyển Ninh ngồi ở đầu kia, cách xa ít nhất ba bước.
Ba bước ấy giữ chẳng được lâu.
Gần canh ba, Tôn ma ma ngủ gục trên ghế, còn Tiêu Trầm thì bắt đầu nói mê. Chàng không kêu đau, cũng chẳng gọi tên ai, chỉ nói những câu rời rạc, giọng trầm mà gấp gáp: đóng cửa Bắc lại, đốt kho lương đi, nhất định không được để quân Hồ vượt sông. Tay chàng quờ quạng như đang tìm thanh kiếm, cánh tay đập mạnh vào thành giường, vết thương trên lưng lại rỉ máu.
Uyển Ninh vội đứng dậy, đưa tay giữ lấy tay chàng.
Bàn tay ấy lập tức xoay lại, nắm chặt lấy tay nàng rồi kéo mạnh một cái. Nàng mất đà ngã sấp xuống giường, nửa người đổ lên người chàng, mặt úp vào hõm vai chàng. Nàng muốn chống tay ngồi dậy, thì một cánh tay đã vòng qua lưng nàng, ghì chặt xuống, khoá nàng trong lòng như người chết đuối ôm lấy khúc gỗ giữa dòng.
“Vương gia,” nàng khẽ gọi, giọng nghẹn lại, “vương gia buông tiểu nữ ra đã…”
Chàng không tỉnh. Nhưng cánh tay đang ôm nàng dần dần thả lỏng, chỉ còn đặt hờ trên lưng nàng, đủ để giữ mà chẳng đủ để làm đau. Hơi thở dồn dập của chàng chậm lại, đôi mày nhíu chặt cũng giãn ra đôi chút. Nàng chỉ cần nhích người là có thể thoát ra, vậy mà lại chẳng nhích.
Nàng nằm im, má áp lên bờ vai trần nóng hổi của chàng, nghe tim chàng đập ngay dưới tai mình, từng nhịp một, dần dần chậm lại. Nàng tự nhủ chỉ một lát thôi, đợi chàng ngủ say rồi sẽ rút ra.
Ngoài cửa sổ, mưa vẫn rơi tí tách trên mái ngói. Nàng không nhớ mình đã thiếp đi từ lúc nào.
Lúc Uyển Ninh mở mắt, trời đã hửng sáng, và thứ đầu tiên nàng nhìn thấy là một đôi mắt đen thẫm, cách mặt mình chưa đầy một gang tay.
Tiêu Trầm nằm nghiêng, lặng lẽ nhìn nàng, chẳng biết đã nhìn bao lâu. Cơn sốt đã lui, sắc mặt tuy còn nhợt nhạt nhưng ánh mắt đã tỉnh táo hẳn. Cánh tay chàng vẫn vòng qua eo nàng, bàn tay đặt hờ trên lưng nàng, thong thả như thể đó là chỗ nó vốn nên đặt.
Uyển Ninh cứng đờ người.
“Vương gia tỉnh từ lúc nào… sao không gọi tiểu nữ dậy?” Nàng lí nhí hỏi, mặt đỏ bừng từ má đến tận mang tai.
“Nàng ngủ say quá,” giọng chàng còn khàn, nhưng nghe rõ ý cười, “lúc nằm mơ còn khóc, nước mắt thấm ướt cả vai ta. Ta không nỡ đánh thức nàng.”
Chàng đưa ngón tay lên, chậm rãi lau đi vệt nước mắt đã khô nơi khoé mắt nàng. Ngón tay thô ráp lướt qua làn da mỏng, nàng run lên, chẳng biết vì sợ hay vì một điều gì khác.
“Nàng mơ thấy chuyện gì mà khóc đến thế?”
Uyển Ninh không đáp. Nàng mơ thấy chậu than đỏ rực, thấy cây trâm nứt toác trong lửa. Nhưng những điều ấy, nàng biết nói cùng ai.
Nàng gỡ tay chàng ra, ngồi bật dậy, luống cuống chỉnh lại cổ áo, lùi khỏi giường mấy bước cho đến khi lưng chạm vào mép bàn trà. Tóc nàng rối tung, trên má còn in vết hằn của nếp áo chàng.
Tôn ma ma vẫn ngủ say trên ghế, ngáy khe khẽ.
“Đêm qua vương gia nói mê, tay đập vào thành giường làm vết thương lại chảy máu,” nàng cố giữ cho giọng mình bình thản. “Tiểu nữ chỉ định giữ tay ngài lại, chẳng ngờ…”
“Chẳng ngờ ta lại không chịu buông nàng ra,” chàng tiếp lời, thản nhiên như đang nói chuyện mưa nắng. “Lúc nói mê, ta đã nói những gì?”
Uyển Ninh do dự một thoáng rồi mới đáp: “Ngài bảo đóng cửa Bắc lại, đốt kho lương đi, nhất định không để giặc vượt sông.”
Ánh mắt Tiêu Trầm trầm xuống. Một lúc lâu sau, chàng mới chậm rãi nói:
“Năm năm trước, ta giữ Nhạn Môn quan. Quân Bắc Hồ tràn xuống, năm ấy ta mới mười tám tuổi, trong thành chỉ còn lại tám trăm người, phải cầm cự suốt bốn mươi ngày mới đợi được viện binh.” Chàng khẽ cười, nụ cười chẳng có chút ấm áp nào. “Đã ngần ấy năm rồi mà cứ hễ sốt là lại mơ thấy cảnh ấy.”
Châu bá về đến trang khi trời đã tối hẳn ngày hôm sau, mang theo một bọc thuốc bột màu nâu sẫm, mấy thang thuốc sắc, cùng một lời nhắn: ông chủ Hồi Xuân đường nói người của vương gia sẽ đến vào đêm thứ ba, trước đó tuyệt đối không được để ai ra khỏi trang.
Thuốc rất hiệu nghiệm. Đến sáng ngày thứ hai, Tiêu Trầm đã có thể ngồi dậy, chỉ là tay phải còn run, cầm bát thuốc lên được nửa chừng thì nước thuốc đã sóng sánh tràn ra ngoài.
Uyển Ninh đành phải ngồi xuống mép giường, cầm thìa đút cho chàng.
Chàng uống rất chậm, mỗi thìa đều nhìn nàng một cái. Tôn ma ma ngồi ở cửa, mặt sa sầm như trời sắp đổ mưa, mấy lần định đứng dậy giành lấy bát thuốc, đều bị Uyển Ninh liếc mắt ngăn lại.
Đến thìa cuối cùng, một giọt thuốc vương lại nơi khoé môi chàng. Uyển Ninh theo thói quen chăm người bệnh, đưa ngón tay lên lau đi.
Đầu ngón tay nàng vừa chạm vào môi chàng, chàng đã khẽ nghiêng mặt, đôi môi mỏng lướt qua đầu ngón tay nàng, rất nhẹ, rất nhanh, như vô tình mà cũng như cố ý.
Uyển Ninh rụt tay về như bị bỏng, suýt nữa đánh rơi cả bát thuốc.
“Thuốc đắng quá,” Tiêu Trầm nói, mặt chẳng đổi sắc, “ta chỉ muốn tìm chút vị ngọt cho đỡ đắng thôi.”
“Vương gia!” Tôn ma ma đứng bật dậy.
Uyển Ninh cúi gằm mặt, đặt bát thuốc xuống bàn, tay vẫn còn run. Nàng hít sâu một hơi, rồi lấy từ trong tay áo ra tấm đồng bài A Lộc nhặt được, đặt lên chiếc ghế đẩu cạnh giường.
“Đây là thứ đám người áo đen đánh rơi bên đường đêm qua.”
Ý cười trên mặt Tiêu Trầm lập tức tắt ngấm. Chàng cầm tấm đồng bài lên, lật đi lật lại, ánh mắt lạnh dần.
“Nàng có biết đây là thứ gì không?”
Uyển Ninh im lặng một thoáng. Nàng không thể nói rằng kiếp trước nàng từng quỳ dưới chân những kẻ đeo tấm đồng bài này. Nàng chỉ có thể nói một nửa sự thật.
“Năm ngoái tiểu nữ theo mẫu thân đến phủ Thừa ân công mừng thọ lão phu nhân bên ấy, có trông thấy đám gia binh đứng gác cổng, bên hông ai cũng đeo một tấm đồng bài như thế này.”
Trong phòng im phăng phắc. Thừa ân công họ Mạnh, là anh ruột của Thái hậu.
Tiêu Trầm nhìn nàng rất lâu, lâu đến mức nàng thấy lưng mình như có kim châm.
“Tô Uyển Ninh,” cuối cùng chàng chậm rãi nói, “nàng có biết vừa rồi mình đã nói ra điều gì không?”
“Tiểu nữ chỉ nói những gì tiểu nữ đã nhìn thấy.”
“Có biết bao nhiêu người từng nhìn thấy tấm đồng bài này, nhưng chẳng ai dám nói nó ra trước mặt ta.” Chàng khẽ siết tấm đồng bài trong tay. “Nàng không sợ ta giết người diệt khẩu hay sao?”
Uyển Ninh ngẩng lên nhìn chàng.
“Đêm qua vương gia còn không nỡ đánh thức tiểu nữ,” nàng khẽ đáp, “chắc là bây giờ cũng chưa nỡ giết tiểu nữ đâu.”
Tiêu Trầm sững ra một thoáng, rồi bật cười. Đó là lần đầu tiên nàng nghe chàng cười thành tiếng, tiếng cười trầm thấp vang lên trong gian thư phòng cũ của mẹ nàng.
Đêm thứ hai, chó trong trang sủa ầm lên.
A Phúc cầm gậy chạy ra vườn trà, chỉ kịp thấy một bóng người áo nâu lom khom vác bó củi chạy biến vào rừng trúc. Hắn đuổi theo một quãng thì mất dấu, quay về bẩm lại, nói chắc là kẻ trộm củi trong vùng.
Uyển Ninh đứng bên cửa sổ, nhìn ra rặng trúc đen thẫm dưới ánh trăng, trong lòng chợt thấy bất an. Kẻ trộm củi nào lại đi trộm vào lúc nửa đêm, lại còn lẩn quẩn ngay sau viện có người bị thương nằm.
Cửa sổ gian Tây sương phòng hắt ánh nến ra ngoài. Lúc ấy nàng vừa thay băng cho Tiêu Trầm xong, hai cái bóng in trên lớp giấy dán cửa sổ, một cao một thấp, gần đến mức như đang ôm nhau.
Sáng ngày thứ ba, trời tạnh mưa, nắng vàng rải khắp sườn đồi trà.
Uyển Ninh dậy sớm ra vườn hái mấy búp trà non, định sao lại cho Tiêu Trầm uống giải độc theo lời ông chủ Hồi Xuân đường dặn. Đất sườn đồi sau mấy ngày mưa vẫn còn trơn, nàng đi được nửa đường thì nghe tiếng bước chân phía sau.
Tiêu Trầm đứng ở đầu luống trà, khoác tạm một tấm áo vải thô của Châu bá, vai rộng đến mức chiếc áo căng ra như sắp rách.
“Vương gia ra đây làm gì, vết thương còn chưa liền miệng mà…”
“Nằm suốt ba ngày, xương cốt cứng hết cả lại rồi.” Chàng bước xuống mấy bậc đất. “Nàng đi đâu thì ta theo đến đấy.”
Uyển Ninh định nói thêm, nhưng vừa xoay người thì gót hài trượt trên mặt đất ẩm, cả người chới với ngã ngửa ra sau.
Một cánh tay vòng qua eo nàng, kéo mạnh về phía trước. Nhưng chàng vốn chưa đứng vững, bị nàng kéo theo, cả hai cùng ngã nhào xuống luống trà. Lúc dừng lại, nàng nằm đè lên người chàng, hai tay chống trên ngực chàng, mặt chỉ cách mặt chàng chưa đầy một tấc, mái tóc dài rủ xuống phủ lên má chàng, như tấm rèm che kín cả hai người.
Tiêu Trầm khẽ rên một tiếng.
“Vương gia!” Uyển Ninh hốt hoảng. “Vết thương của ngài…”
“Không sao đâu.” Chàng không buông tay, cánh tay vẫn vòng chặt qua eo nàng, giữ nàng nằm yên trên người mình. “Nàng nhẹ lắm, chẳng nặng bằng thanh kiếm của ta.”
Gió thổi qua đồi trà, mang theo hương trà non ngai ngái. Uyển Ninh nhìn xuống gương mặt chàng, thấy hàng mi dài đổ bóng xuống gò má, thấy vết xước nơi cằm đã kết vảy, thấy đôi môi mỏng mím nhẹ, chính đôi môi đã lướt qua đầu ngón tay nàng hôm qua. Nàng chợt thấy cổ họng khô khốc.
“Vương gia buông tiểu nữ ra đi…” Giọng nàng nhỏ đến mức gần như không nghe thấy. “Có người trông thấy thì không hay đâu.”
“Trong trang này, có ai dám nhìn?” Chàng hỏi lại, giọng trầm thấp. Nhưng rồi chàng vẫn từ từ nới tay, đỡ nàng ngồi dậy, cẩn thận phủi mấy chiếc lá trà vương trên tóc nàng.
Ngón tay chàng lướt qua cây trâm bạch ngọc trên đầu nàng, dừng lại một thoáng.
“Cây trâm này nàng cài suốt mấy ngày nay, chưa đổi lần nào.”
“Đây là di vật của mẫu thân tiểu nữ.”
Tiêu Trầm không hỏi thêm. Chàng chỉnh lại cây trâm cho ngay ngắn, động tác cẩn thận như sợ làm vỡ một thứ gì quý giá lắm.
Đêm thứ ba, trăng tháng ba treo lơ lửng trên đỉnh núi, sáng vằng vặc.
Uyển Ninh mang lọ thuốc mỡ vào thay băng lần cuối, Tôn ma ma đi theo sau như hình với bóng, ngồi xuống chiếc ghế cạnh cửa, mắt không rời hai người lấy một khắc.
Tiêu Trầm ngồi quay lưng về phía nàng, áo cởi xuống đến ngang hông. Dưới ánh nến, vết thương trên lưng đã khép miệng, màu xanh đen quanh mép đã nhạt đi gần hết, chỉ còn một đường đỏ thẫm dài như con rết bò trên da thịt, chồng lên những vết sẹo cũ ngang dọc.
Nàng lấy thuốc mỡ, thoa dọc theo vết thương. Ngón tay nàng đi từ bả vai xuống, chậm rãi và cẩn thận, đến gần thắt lưng thì nàng cảm thấy lưng chàng căng cứng lại.
“Tiểu nữ làm vương gia đau phải không?”
“Không đau đâu, nàng cứ làm tiếp đi.”
Nàng bắt đầu quấn băng. Vòng thứ nhất, nàng nghiêng người, cánh tay vòng qua trước ngực chàng. Vòng thứ hai, nàng buộc phải nhích sát lại, ngực gần như áp lên lưng chàng, má kề bên tai chàng. Chàng hơi nghiêng đầu, mái tóc lướt qua má nàng, mang theo mùi thuốc đắng lẫn mùi bồ kết.
Đến vòng thứ ba, Tiêu Trầm bỗng nắm lấy tay nàng, giữ yên trước ngực mình. Lòng bàn tay nàng áp lên ngực trái chàng, tim chàng đập mạnh và nhanh, chẳng giống nhịp tim của một người đang bình thản chút nào.
“Vương gia!” Tôn ma ma đứng bật dậy.
Tiêu Trầm không quay đầu lại, chỉ nói bằng giọng trầm thấp, vừa đủ cho mình Uyển Ninh nghe thấy:
“Đêm nay người của ta sẽ đến đón. Trước khi ta đi, nàng muốn ta đền đáp điều gì?”
Uyển Ninh cố rút tay về mà không được. Nàng cúi đầu, giọng run run nhưng vẫn rõ ràng:
“Tiểu nữ chỉ mong vương gia quên đi chuyện ba ngày nay, coi như chưa từng gặp tiểu nữ.”
Chàng im lặng rất lâu, lâu đến mức ngọn nến trên bàn đã nổ lách tách mấy lần, rồi mới đáp:
“Điều ấy thì ta không làm được.”
Uyển Ninh ngẩng phắt lên.
“Mạng ta là nàng nhặt từ trong bùn về. Đêm đầu tiên nàng nằm trong lòng ta khóc ướt cả vai, hôm qua nàng đút thuốc cho ta, sáng nay nàng ngã đè lên người ta giữa đồi trà.” Tiêu Trầm chậm rãi buông tay nàng, kéo áo lên, buộc lại vạt áo. “Những chuyện như thế, nàng bảo ta quên làm sao được.”
Mặt Uyển Ninh đỏ như gấc chín. Tôn ma ma ở bên cửa thì mặt đã xanh như tàu lá.
Chàng xoay người lại, nhìn chiếc khăn tay trắng thêu hoa hải đường nàng vẫn dùng để lau tay sau mỗi lần thay băng, đang đặt trên mép giường. Chàng cầm lấy nó, gấp lại, cất vào trong ngực áo.
“Vương gia, chiếc khăn ấy là…”
“Chiếc khăn này ta xin giữ lại,” chàng nói, giọng chẳng cho ai cãi. “Còn một chuyện nữa. Mùng sáu tháng ba, ở chùa Từ Ân, biểu muội Lục gia rơi xuống hồ, Lục Cảnh Hành nhảy xuống cứu, đúng vào giờ Mùi, đúng ở đình Vọng Hồ. Mà cũng đúng ngày ấy, Tô đại tiểu thư nhà Lễ bộ thị lang lại cáo bệnh không đi chùa.”
Mặt Uyển Ninh trắng bệch.
“Người của ta ở Hồi Xuân đường làm việc nhanh lắm,” chàng nói, nhẹ nhàng như đang bàn chuyện mưa nắng. “Ta chỉ tò mò không biết nàng cáo bệnh là vì không muốn gặp hắn, hay là vì đã biết trước bậc đá ở đình Vọng Hồ bị người ta bôi dầu?”
Ngoài sân có tiếng chim cú kêu ba tiếng, ngắn và đều nhau.
Tiêu Trầm đứng dậy, cầm lấy thanh kiếm dựng ở đầu giường. Lúc đi ngang qua nàng, chàng dừng lại, cúi đầu nói rất khẽ bên tai nàng, hơi thở phả lên vành tai nàng nóng hổi:
“Tô Uyển Ninh, lần sau gặp lại, nàng hãy nói thật với ta.”
Cửa mở ra, gió đêm ùa vào khiến ngọn nến chao đảo. Ngoài sân, dưới bóng trăng, hai bóng người áo đen đã quỳ sẵn từ bao giờ. Chàng bước ra, không ngoảnh đầu lại lần nào.
Đêm ấy, ở Từ Ninh cung trong hoàng thành, đèn đuốc sáng trưng đến tận canh tư.
Một gã đàn ông mặc áo đen quỳ rạp dưới thềm, trán dập xuống nền đá cẩm thạch đã rỉ máu. Hắn chính là kẻ cầm đầu toán người chặn xe ở Tây Sơn, giờ toàn thân run lẩy bẩy như cầy sấy.
“Ba ngày,” Thái hậu ngồi trên phượng tọa, giọng nhẹ nhàng như đang hỏi chuyện hoa cỏ, tay mân mê chiếc hộ giáp vàng dài gần một tấc. “Ai gia cho ngươi ba ngày, vậy mà ngươi lại để hắn sống sót trở về kinh thành.”
“Thái hậu tha mạng! Nô tài đã lục soát khắp Tây Sơn, đến cả khe suối phía bắc cũng…”
“Khe suối phía bắc.” Thái hậu khẽ cười. “Hắn để lại cho ngươi một vệt máu, ngươi liền theo đó mà đi, đúng là một con chó ngoan.”
Bà ta phẩy tay. Hai thái giám bước lên, lôi gã đàn ông ra ngoài. Tiếng kêu van thảm thiết vọng vào được mấy tiếng, rồi im bặt.
Ngồi bên cạnh Thái hậu, một thiếu nữ áo đỏ đang thong thả bóc vỏ một quả vải, ngón tay thon dài nhuộm sơn đỏ thắm, chẳng hề ngẩng lên khi nghe tiếng kêu bên ngoài. Mặt trái xoan, mắt phượng, môi son, đẹp đến mức chói mắt. Đó là Mạnh Thanh Loan, cháu gái ruột của Thái hậu, con gái út của Thừa ân công.
“Cô mẫu cần gì phải giận,” nàng ta đưa quả vải đã bóc lên tận miệng Thái hậu, giọng ngọt lịm. “Hắn trúng độc Lam Tịch, đáng lẽ không sống nổi qua ba ngày, vậy mà lại trở về được, chắc chắn có kẻ giúp hắn. Chỉ cần tìm ra kẻ ấy, chẳng phải là nắm được nhược điểm của hắn rồi sao?”
Thái hậu nhìn cháu gái, ánh mắt dịu lại.
“Ngươi vẫn còn muốn gả cho hắn?”
Mạnh Thanh Loan mỉm cười, đôi mắt phượng ánh lên một tia sáng lạnh.
“Cháu muốn làm Nhiếp chính vương phi. Còn hắn sống hay chết, cháu chẳng để tâm.”
Ở Lục phủ, Liễu Như Yên cũng thức đến tận canh ba.
Gã gia đinh tên Lục Thuận đứng dưới hiên, quần áo còn lấm bùn đất, cúi đầu bẩm lại những gì đã thấy ở Thanh Khê trang suốt mấy ngày nằm phục trong rừng trúc: một nam tử lạ mặt được khiêng vào từ xe ngựa của Tô tiểu thư, ở lại viện sau ba đêm, chính Tô tiểu thư tự tay mang cơm thuốc vào. Đêm thứ hai, bóng hai người in trên cửa sổ sát vào nhau. Sáng thứ ba, hắn còn tận mắt thấy hai người ngã lăn ra giữa đồi trà, ôm nhau một lúc lâu mới chịu dậy.
Như Yên nghe xong, thưởng cho hắn năm lượng bạc, dặn hắn kín miệng, rồi phẩy tay cho lui.
Nàng ta ngồi lặng trước gương đồng rất lâu.
Từ hôm ở Tô phủ về, nàng ta đã biết biểu ca vẫn còn nhớ đến Tô Uyển Ninh. Đêm nào hắn cũng ngồi trong thư phòng tính toán sổ nợ của Lục gia, đêm nào cũng lẩm bẩm mười hai cửa hiệu, ba trang điền. Có lần hắn say rượu, còn buột miệng nói nếu người ngã xuống hồ hôm ấy là Tô Uyển Ninh thì tốt biết bao.
Nàng ta là người đến sau, phải tự tay bôi dầu lên bậc đá, phải canh đúng giờ Mùi mà nhảy xuống hồ trước mặt bao người mới giành được hắn. Còn Tô Uyển Ninh chẳng cần làm gì, chỉ ngồi yên một chỗ, vẫn khiến hắn tơ tưởng.
Cửa thư phòng khẽ mở. Lục Cảnh Hành bước vào, áo trung y lỏng lẻo, mùi rượu thoang thoảng.
“Sao còn chưa ngủ?” Hắn ôm nàng ta từ phía sau, cằm tựa lên vai nàng ta, tay luồn vào vạt áo, mơn trớn bên eo.
Như Yên nghiêng đầu dựa vào hắn, giọng mềm như nước:
“Biểu ca, muội vừa nghe được một chuyện về Tô tỷ tỷ.”
Nàng ta kể lại từng chữ, không sót chữ nào. Kể đến đoạn hai người ôm nhau giữa đồi trà, nàng ta cảm thấy bàn tay đang mơn trớn bên eo mình khựng lại.
Rồi Lục Cảnh Hành bật cười, mắt sáng lên như vừa nhặt được vàng.
“Tốt lắm. Thế này thì Tô gia muốn từ chối cũng chẳng được nữa.” Hắn xoay người nàng ta lại, hôn mạnh lên môi nàng ta, hơi thở nồng nặc mùi rượu. “Danh tiết đã mất, ngoài Lục gia ra, còn nhà nào dám rước nàng ta về? Đến lúc ấy, cưới nàng ta làm bình thê, Tô gia còn phải cảm tạ chúng ta.”
Như Yên ngửa cổ đón nhận nụ hôn của hắn, hai tay vòng lên cổ hắn, nhưng trong mắt nàng ta không có lấy một chút ý cười.
Để Tô Uyển Ninh vào cửa cũng được. Mười hai cửa hiệu kia, nàng ta cũng muốn có. Còn Tô Uyển Ninh, một kẻ thất tiết phải nhờ Lục gia mới giữ được thể diện, vào Lục phủ rồi thì sống hay chết, há chẳng phải do nàng ta định đoạt sao.
Ngọn nến trên bàn bị cánh tay Lục Cảnh Hành gạt đổ, tắt phụt. Trong bóng tối, chỉ còn tiếng xiêm áo rơi xuống nền gạch.
Mười ngày sau, Uyển Ninh trở về kinh.
Xe ngựa vừa vào đến cửa thành phía tây, nàng đã cảm thấy có gì đó khác lạ. Người qua đường cứ ngoái lại nhìn xe nhà họ Tô, ghé tai nhau thì thầm. Đến khi xe dừng trước cổng Tô phủ, gã gác cổng nhìn nàng bằng ánh mắt né tránh, cúi đầu thật thấp mà chẳng dám chào.
Bích Đào chạy đi dò hỏi một vòng, lúc quay về mặt đã tái mét, nước mắt lưng tròng.
“Tiểu thư… người ta đồn khắp kinh thành, nói tiểu thư ra điền trang là để tư thông với nam nhân. Nói có người tận mắt thấy tiểu thư với hắn ôm nhau giữa đồi trà, còn ở chung phòng suốt ba đêm…”
Uyển Ninh đứng lặng giữa hành lang.
Nàng nhớ đến bóng người áo nâu chạy vào rừng trúc đêm hôm ấy. Nàng nhớ đến ánh mắt lạnh như băng của Như Yên trên hành lang Tô phủ hôm nào.
“Tiểu thư, lão gia cho gọi tiểu thư lên chính sảnh ngay.” Một bà tử chạy đến, giọng hấp tấp. “Lục phu nhân với Lục công tử đang ở đó.”
Chính sảnh Tô phủ nặng nề như có tang.
Tô Minh Viễn ngồi ở ghế chủ vị, mặt xám ngắt, hai tay nắm chặt tay vịn ghế đến nổi gân xanh. Vương thị ngồi bên cạnh, khoé mắt đỏ hoe nhưng khoé môi thì như đang cố nén cười. Phía đối diện, Lục phu nhân cùng một bà mối đang ngồi, trên bàn bày sẵn mấy hộp lễ vật, nhưng không buộc dây lụa đỏ như lễ hỏi thông thường, mà chỉ buộc dây lụa hồng.
Dây lụa hồng, là lễ dành cho người vào cửa làm bình thê hay thiếp thất.
Lục Cảnh Hành ngồi ở ghế dưới, áo trắng ngọc quán, thấy nàng bước vào thì đứng dậy, chắp tay vái một vái, gương mặt tuấn tú đầy vẻ xót xa thương cảm.
“Tô tiểu thư.”
Uyển Ninh không nhìn hắn. Nàng đi thẳng đến trước mặt phụ thân, quỳ xuống.
“Phụ thân, con đã về.”
“Con còn biết đường về!” Tô Minh Viễn đập bàn, chén trà nảy lên, nước trà bắn tung toé. “Cả kinh thành đang cười nhạo Tô gia, nói con gái nhà Lễ bộ thị lang không biết liêm sỉ! Ta làm quan Lễ bộ hai mươi năm, dạy người ta lễ nghĩa hai mươi năm, đến con gái mình cũng không dạy nổi!”
“Lão gia bớt giận,” Vương thị vội vàng vuốt ngực ông, giọng nghèn nghẹn. “Ninh nhi còn nhỏ dại, lỡ dại một lần, giờ chuyện đã thế này rồi, mình phải nghĩ cách giữ thể diện cho con bé mới phải.”
“Tô bá phụ.” Lục Cảnh Hành bước lên một bước, giọng ôn hoà, chân thành. “Cháu với Uyển Ninh từng có tình nghĩa, nay nàng gặp nạn, cháu không thể đứng nhìn. Người ngoài nói gì, cháu cũng không tin. Cháu nguyện cưới Uyển Ninh vào cửa làm bình thê, ngang hàng với Như Yên, để chặn miệng thiên hạ, giữ thanh danh cho Tô gia.”
Lục phu nhân ở bên cạnh vội tiếp lời: “Cảnh Hành nhà tôi trọng tình trọng nghĩa, chuyện đến nước này mà vẫn không chê bai. Tô đại nhân nghĩ xem, trong kinh thành này, ngoài Lục gia ra, còn nhà nào chịu nhận?”
Uyển Ninh quỳ thẳng lưng, nghe từng lời một.
Kiếp trước, nàng mang mười hai cửa hiệu vào Lục phủ làm chính thê mà còn bị đối xử như thế. Kiếp này, vào cửa làm bình thê với cái danh thất tiết trên đầu, ngang hàng với Như Yên, thì kết cục sẽ còn thảm hại đến đâu.
“Phụ thân,” nàng cúi đầu, giọng nhỏ nhẹ mà không run, “ba ngày ở điền trang, con quả thật đã cứu một người bị thương nằm bên đường. Tôn ma ma, Bích Đào, Châu bá, cả hai hộ viện đều ở đó, ngày đêm không rời con nửa bước, con không dám nói dối phụ thân. Chỉ là người ấy là ai, con đã hứa không nói ra, nay xin phụ thân cho con được giữ lời.”
“Hứa với ai mà không thể nói?” Vương thị cười khẩy. “Ninh nhi à, con nói vậy thì ai mà tin cho được.”
Tô Minh Viễn nhìn đứa con gái đang quỳ dưới thềm, lại nhìn mấy hộp lễ vật buộc dây hồng trên bàn, sắc mặt biến đổi liên hồi. Ông là người sĩ diện, cả đời không chịu nổi một lời đàm tiếu. Nhưng để con gái trưởng của mình vào cửa làm bình thê, khác nào tự tay tát vào mặt mình.
Một lúc lâu sau, ông mới khàn giọng nói:
“Mùng hai tháng tư, Gia Hòa trưởng công chúa mở tiệc thưởng mẫu đơn, có gửi thiếp mời đến nhà ta. Lục phu nhân, chuyện hôm nay, xin để sau ngày ấy ta sẽ trả lời.”
Lục phu nhân còn định nói thêm, nhưng bị Lục Cảnh Hành khẽ kéo tay áo. Hắn lại chắp tay vái Tô Minh Viễn một vái, rồi quay sang nhìn Uyển Ninh, ánh mắt dịu dàng như năm nào dưới gốc hải đường.
“Uyển Ninh, ta sẽ chờ nàng.”
Tối hôm ấy, Uyển Ninh ngồi một mình trong hoa viên, dưới bức giả sơn mẹ nàng từng ngồi đọc sách.
Tiếng bước chân nhẹ nhàng vang lên sau lưng nàng. Nàng không cần quay lại cũng biết là ai, vì mùi hương mai lạnh ấy, nàng nhớ đến chết cũng không quên.
“Tô tỷ tỷ.”
Liễu Như Yên đứng dưới ánh đèn lồng, áo hồng đào, tóc cài trâm bạc, nụ cười vẫn ngọt ngào như cũ. Nàng ta theo Lục phu nhân đến Tô phủ từ chiều, nhưng không vào chính sảnh, chỉ ngồi đợi ở hoa sảnh phía tây, đợi đến tận bây giờ.
“Liễu cô nương còn chưa về sao?”
“Muội muốn nói với tỷ tỷ mấy câu rồi mới về.” Như Yên bước đến, ngồi xuống bên cạnh nàng, thân thiết như chị em ruột. “Tỷ tỷ đừng trách biểu ca. Biểu ca là người tốt, thấy tỷ tỷ gặp nạn nên mới chịu đứng ra gánh vác. Muội cũng chẳng để bụng đâu, sau này tỷ tỷ vào cửa, chúng ta là chị em một nhà.”
Nàng ta ngừng lại, rồi ghé sát tai Uyển Ninh, giọng hạ xuống thật thấp, ngọt như mật mà lạnh như băng:
“Có điều trong Lục phủ, xưa nay ai vào trước thì là lớn. Tỷ tỷ vào sau, lại mang cái danh ấy trên đầu, nên học cách cúi đầu cho quen đi. Sáng sáng dâng trà, tối tối hầu hạ. Muội thích uống trà Bích La Xuân pha vừa ấm, tỷ tỷ nhớ lấy.”
Uyển Ninh quay sang nhìn nàng ta.
Dưới ánh đèn lồng, gương mặt Như Yên đẹp như tranh vẽ, đôi mắt ướt át như nai con. Chính đôi mắt này, kiếp trước đã nhìn nàng nằm dưới nền gạch lạnh, nhìn cây trâm của mẹ nàng nứt toác trong chậu than, rồi cười.
“Liễu cô nương,” Uyển Ninh mỉm cười, giọng ôn hoà như đang chuyện trò, “những tin đồn ngoài kia, là cô sai người tung ra phải không?”
Nụ cười trên mặt Như Yên không đổi. “Tỷ tỷ nói gì vậy, muội nào dám.”
“Cô có dám hay không, ta không cần biết.” Uyển Ninh đứng dậy, phủi nhẹ vạt áo. “Ta chỉ muốn nói với cô một câu. Trà Bích La Xuân, cả đời này ta sẽ không pha cho cô uống đâu. Cô cứ giữ lấy biểu ca của mình, giữ cho thật chặt vào.”
Nàng xoay người bước đi, để Như Yên ngồi lại một mình dưới bức giả sơn, ánh đèn lồng hắt lên gương mặt nàng ta, khiến nụ cười kia méo đi thành một vệt méo mó.
Về đến viện, Bích Đào đã đứng đợi ở cửa, trên tay cầm một chiếc hộp gỗ nhỏ, mặt mày bối rối.
“Tiểu thư, chiều nay có người đưa đến cổng sau, nói là phải giao tận tay tiểu thư. Nô tỳ hỏi ai gửi thì người ấy không nói, quay đi mất rồi.”
Uyển Ninh mở hộp ra.
Trong hộp là tấm thiếp mời dự tiệc thưởng mẫu đơn của phủ Gia Hòa trưởng công chúa, nhưng không phải tấm thiếp chung gửi cho Tô gia, mà là một tấm riêng, đề đích danh Tô đại tiểu thư Uyển Ninh. Kẹp bên dưới tấm thiếp là chiếc khăn tay trắng thêu hoa hải đường của nàng, đã được giặt sạch, gấp vuông vắn, góc khăn có thêm một dòng chữ viết bằng mực, nét bút mạnh mẽ như đao khắc:
Mùng hai tháng tư, ta đợi nàng.
(Hết chương 2)
Comments for chapter "Chương 2"
BÌNH LUẬN TRUYỆN
Madara Info
Madara stands as a beacon for those desiring to craft a captivating online comic and manga reading platform on WordPress
For custom work request, please send email to wpstylish(at)gmail(dot)com