Chương 6
Sau đêm rằm tháng tám, cả vương phủ đều nhận ra vương gia đã khác.
Trước kia chàng ít khi về phủ trước giờ Dậu, nay thì chưa quá giờ Thân đã thấy ngựa dừng trước cổng. Trước kia thư phòng sáng đèn đến canh ba, nay thì tấu chương được mang hết về Thanh Phong viện, chàng ngồi phê ở một đầu bàn, vương phi ngồi tính sổ ở đầu kia, thỉnh thoảng chàng lại ngẩng lên nhìn nàng một cái, nhìn xong lại cúi xuống phê tiếp, khoé môi cứ cong lên mãi chẳng chịu hạ xuống.
Tần quản gia theo hầu vương gia mười năm, chưa từng thấy vương gia cười nhiều đến thế. Có hôm ông ta bưng trà vào, bắt gặp vương gia đang cúi xuống buộc lại dây hài cho vương phi, vội vàng lui ra, đứng ngoài hành lang lau nước mắt, chẳng biết là mừng hay là cảm động.
Đầu tháng chín, Tiêu Trầm mang về một con mèo trắng nhỏ, lông mượt như tuyết, mắt xanh biếc như ngọc.
“Đêm qua nàng nói mê,” chàng đặt con mèo vào lòng nàng, giọng thản nhiên, “bảo hồi nhỏ mẫu thân có nuôi một con mèo trắng, mẫu thân đi rồi thì mèo cũng chẳng biết lạc đi đâu mất. Nàng còn khóc nữa.”
Uyển Ninh ôm con mèo trong lòng, ngẩng lên nhìn chàng, mắt đỏ hoe.
“Chàng nghe thiếp nói mê, rồi đi tìm suốt một ngày sao?”
“Ta bảo người tìm khắp kinh thành, chỉ có con này là giống nhất với lời nàng tả.” Chàng đưa tay gãi cằm con mèo, con mèo lim dim mắt kêu rừ rừ. “Nàng đặt cho nó một cái tên đi.”
Nàng nghĩ một lúc, rồi khẽ nói: “Gọi là Tuyết Đoàn đi.”
Từ hôm ấy, Tuyết Đoàn theo nàng như hình với bóng, ban ngày cuộn tròn trên đùi nàng lúc nàng tính sổ, ban đêm nằm co ở cuối giường. Có đêm Tiêu Trầm trở mình, vô tình đạp phải nó, bị nó cào cho một vệt dài trên bắp chân, sáng ra chàng nhìn vết cào, rồi nhìn con mèo đang nằm trong lòng nàng mà rên rừ rừ, chỉ biết thở dài:
“Ta mang nó về cho nàng, vậy mà nó lại coi ta như kẻ thù.”
Phương ma ma là quản sự phòng bếp của vương phủ, năm nay ngoài bốn mươi, người thấp đậm, mặt tròn, lúc nào cũng cười hiền lành.
Bà ta vào vương phủ đã tám năm, từ thuở vương gia mới ra ở riêng. Nghe nói trước kia bà ta từng làm việc trong cung, sau phạm lỗi nhỏ bị đuổi ra, được Tần quản gia thương tình nhận về. Tám năm nay, bà ta chưa từng làm hỏng một bữa cơm, chưa từng ăn bớt một đồng tiền chợ, cả vương phủ ai cũng khen bà ta thật thà chăm chỉ. Lúc Uyển Ninh mới về làm vương phi, rà soát lại người hầu kẻ hạ, đến phòng bếp cũng chẳng tìm ra chỗ nào sai sót.
Từ sau rằm tháng tám, tối nào Phương ma ma cũng tự tay nấu một bát canh tổ yến đường phèn, tự tay bưng đến Thanh Phong viện cho vương phi.
“Vương phi người gầy quá,” bà ta cười nói, đặt bát canh xuống bàn, “vương gia dặn lão nô phải tẩm bổ cho vương phi thật tốt. Tổ yến này là loại huyết yến thượng hạng ở Xiêm La đưa sang, cả kinh thành chẳng có mấy nhà được ăn đâu.”
Uyển Ninh mỉm cười cảm tạ, tối nào cũng uống cạn.
Tuyết Đoàn rất thích mùi đường phèn trong canh tổ yến. Tối nào bát canh vừa đặt xuống bàn, nó cũng nhảy phắt lên, dụi đầu vào tay nàng kêu meo meo không thôi. Uyển Ninh thương nó, trước khi uống bao giờ cũng múc riêng ra một chiếc đĩa sứ nhỏ vài thìa, đặt xuống sàn cho nó liếm.
Đến cuối tháng chín, nàng bắt đầu nhận ra con mèo có điều khác lạ.
Nó ngủ nhiều hơn trước, có hôm ngủ từ sáng đến tối chẳng buồn dậy. Lông nó vẫn trắng muốt, nhưng mỗi lần nàng vuốt, lông lại rụng ra từng nắm. Đôi mắt xanh biếc dần trở nên lờ đờ, chẳng còn tinh nghịch đuổi theo sợi chỉ thêu như trước nữa.
Nàng gọi người ở chuồng ngựa đến xem, người ấy chỉ lắc đầu, nói mèo nhà quyền quý ăn nhiều đồ ngon quá nên sinh lười, chẳng có gì đáng lo.
Uyển Ninh ngồi nhìn con mèo nằm thiêm thiếp trên đùi mình rất lâu, rồi chợt nhớ đến một chuyện của kiếp trước.
Năm thứ ba làm dâu Lục phủ, nàng từng theo Lục phu nhân vào chùa Hộ Quốc dâng hương, nghe mấy vị lão thái thái ngồi trong hậu viện thì thầm chuyện cũ trong cung. Họ nói năm xưa Thục phi được tiên đế sủng ái nhất, sinh được hoàng tử, vậy mà chẳng hiểu sao người cứ gầy dần, tóc rụng dần, ngày ngày chỉ muốn ngủ, hoàng tử chưa đầy một tuổi thì mẫu thân đã ngủ một giấc không dậy nữa. Thái y viện tra đi tra lại, chẳng tìm ra được bệnh gì. Hoàng tử ấy sau được hoàng hậu đem về nuôi như con đẻ, chính là hoàng thượng bây giờ.
Uyển Ninh siết chặt lấy vạt áo.
Mấy ngày gần đây, mỗi sáng chải đầu, nàng cũng thấy trên lược vương lại nhiều tóc hơn trước. Nàng cũng hay buồn ngủ hơn, có lúc đang ngồi tính sổ mà mi mắt cứ díp lại. Nàng cứ ngỡ là vì những đêm Tiêu Trầm chẳng chịu cho nàng ngủ yên.
Hôm sau, Uyển Ninh lấy cớ đi chùa cầu phúc, mang theo một chiếc bình sứ nhỏ đựng chút canh tổ yến còn lại từ tối hôm trước, ghé qua Hồi Xuân đường.
Ông chủ Hồi Xuân đường là người của Tiêu Trầm, mấy tháng trước đã từng gặp nàng một lần. Ông ta mở bình sứ, nhỏ mấy giọt canh lên một mảnh bạc, rồi lại nhỏ lên một nhánh ngân hạnh, nhìn rất lâu, sắc mặt mỗi lúc một tái đi.
“Vương phi,” ông ta hạ giọng, “trong canh này có Hồng Nhan Tiếu.”
Uyển Ninh ngồi im, hai tay đặt trên đùi lạnh toát.
“Thứ độc này không màu không mùi, thử bằng bạc cũng không đổi sắc, chỉ có nhựa ngân hạnh là làm nó lộ ra một chút màu hồng nhạt.” Ông ta chỉ vào nhánh ngân hạnh, nơi giọt canh vừa nhỏ xuống đã loang ra một vệt hồng nhàn nhạt như cánh hoa đào. “Người uống vào chẳng thấy đau đớn gì, chỉ ngày càng mệt mỏi, rụng tóc, ham ngủ. Uống đủ ba tháng thì độc ngấm vào tâm mạch, chẳng thuốc nào cứu được. Cả thiên hạ này, nghe nói chỉ trong cung mới có.”
“Ta đã uống được hơn một tháng rồi,” Uyển Ninh khẽ nói, giọng vẫn bình thản, chỉ có bàn tay trên đùi là siết chặt đến trắng bệch. “Bây giờ còn kịp không?”
Ông chủ Hồi Xuân đường bắt mạch cho nàng rất lâu, rồi mới thở phào một hơi.
“Vẫn còn kịp. Liều mỗi ngày rất nhỏ, kẻ hạ độc là người cẩn thận, sợ vương phi phát hiện nên không dám dùng nhiều. Vương phi ngừng uống ngay từ hôm nay, lão phu sẽ kê một thang thuốc giải, uống đủ bốn mươi chín ngày là sạch.”
Uyển Ninh nhận lấy đơn thuốc, đứng dậy cáo từ. Lúc bước ra đến cửa, nàng bỗng quay lại:
“Chuyện hôm nay, xin ông chủ tạm thời đừng báo với vương gia. Ta sẽ tự mình nói với chàng.”
Tối hôm ấy, Phương ma ma lại bưng bát canh tổ yến đến, vẫn nụ cười hiền lành quen thuộc, vẫn mấy câu dặn dò vương phi nhớ uống khi còn ấm. Uyển Ninh nhận lấy, nhã nhặn cảm ơn bà ta, đợi bà ta lui ra rồi mới đổ bát canh vào chậu hoa lan ngoài hiên.
Tiêu Trầm về phủ lúc trời vừa tối. Chàng bước vào phòng, thấy nàng ngồi bên đèn, Tuyết Đoàn nằm thiêm thiếp trong lòng, trên bàn đặt một nhánh ngân hạnh và một chiếc bình sứ nhỏ. Chàng còn chưa kịp cởi áo choàng, nàng đã ngẩng lên nhìn chàng, nói rất khẽ:
“Chàng ngồi xuống đi, thiếp có chuyện muốn nói với chàng.”
Nàng kể lại từng chuyện một: con mèo rụng lông, những sợi tóc trên lược, câu chuyện về Thục phi nghe được ở chùa Hộ Quốc, vệt hồng nhạt trên nhánh ngân hạnh ở Hồi Xuân đường.
Tiêu Trầm nghe hết, không nói một lời nào.
Nàng chỉ thấy sắc mặt chàng mỗi lúc một trắng bệch, đôi mắt đen thẫm mỗi lúc một lạnh đi. Khi nàng nói đến câu “thiếp đã uống được hơn một tháng rồi”, bàn tay đặt trên bàn của chàng siết lại, gân xanh nổi lên chằng chịt, chiếc chén trà trong tay chàng nứt toác một đường dài.
Chàng đứng bật dậy, rút thanh kiếm treo trên vách, bước thẳng ra cửa.
“Chàng!” Uyển Ninh hốt hoảng chạy theo, ôm chặt lấy lưng chàng từ phía sau. “Chàng định đi đâu?”
“Ta đi giết bà ta.” Giọng chàng khàn đặc, run lên vì giận. “Ta đi giết mụ già ấy trước, rồi vào cung giết nốt kẻ đứng sau.”
“Chàng giết Phương ma ma thì được gì? Bà ta chết rồi thì ai làm chứng? Chàng xông vào cung giết Thái hậu, ngày mai cả triều đình sẽ nói Nhiếp chính vương mưu phản, sát hại mẫu hậu của hoàng thượng!” Nàng siết chặt vòng tay, áp mặt vào lưng chàng, nước mắt thấm ướt cả vạt áo. “Thiếp còn sống mà, chàng nhìn thiếp đi, thiếp vẫn còn sống đây.”
Tiêu Trầm đứng yên. Thanh kiếm trong tay chàng run lên bần bật.
Rất lâu sau, chàng mới buông kiếm xuống, quay người lại, ôm chầm lấy nàng. Chàng ôm chặt đến mức nàng gần như không thở được, như sợ chỉ cần nới tay một chút, nàng sẽ tan biến mất. Nàng cảm nhận được cả người chàng đang run lên. Lần đầu tiên nàng thấy người đàn ông từng giữ Nhạn Môn quan suốt bốn mươi ngày, từng một mình đứng giữa triều đình đối đầu với Thái hậu, run rẩy như một đứa trẻ.
“Hơn một tháng,” chàng thì thầm, giọng vỡ ra, “ngày nào ta cũng ngồi cạnh nàng, ngày nào ta cũng nhìn nàng uống bát canh ấy. Ta thấy nàng hay buồn ngủ, ta còn cười, còn trêu nàng là lười biếng…”
“Chàng không biết mà.” Nàng đưa tay vuốt lên lưng chàng, như vẫn thường làm mỗi khi chàng gặp ác mộng về Nhạn Môn quan. “Chẳng ai biết được cả.”
“Nếu nàng không phát hiện ra… nếu ba tháng sau nàng cứ thế ngủ một giấc không dậy nữa…”
Chàng không nói tiếp được. Chàng cúi xuống, vùi mặt vào hõm cổ nàng, hơi thở nặng nề, nóng hổi. Uyển Ninh cảm thấy có thứ gì đó ươn ướt rơi xuống vai mình.
Đêm ấy, chàng không chịu buông nàng ra lấy một khắc. Chàng bế nàng lên giường, ôm nàng trong lòng, cứ một lát lại cúi xuống hôn lên tóc nàng, lên trán nàng, lên mi mắt nàng, như để chắc chắn nàng vẫn còn ấm. Có lúc nàng thiu thiu ngủ, chàng lại khẽ gọi tên nàng, đợi nàng ậm ừ đáp lại một tiếng mới chịu thôi.
Gần sáng, nàng tỉnh dậy, thấy chàng vẫn mở mắt, chăm chú nhìn nàng.
“Chàng không ngủ chút nào sao?”
“Ta không dám ngủ.” Chàng đưa tay vén lọn tóc trên trán nàng. “Ta sợ nhắm mắt lại, mở ra thì nàng đã không còn ở đây nữa.”
Uyển Ninh nhìn chàng, rồi rướn người lên, đặt môi mình lên môi chàng. Nụ hôn nhẹ nhàng và chậm rãi, như muốn truyền sang chàng chút hơi ấm của mình.
“Thiếp ở đây,” nàng thì thầm bên môi chàng. “Thiếp sẽ ở đây rất lâu, lâu đến mức chàng phát chán mới thôi.”
Sáng hôm sau, khi Tiêu Trầm đã bình tĩnh lại, hai người ngồi bàn bạc trong thư phòng, cửa đóng kín.
“Phương ma ma không thể tự mình có được Hồng Nhan Tiếu,” Uyển Ninh nói. “Thứ thuốc này dùng mỗi ngày một ít, bà ta phải có người thường xuyên mang đến. Chỉ cần bắt được người mang thuốc, lấy được lọ thuốc có dấu của Từ Ninh cung, thì đó mới là bằng chứng thật sự.”
“Ý nàng là cứ để bà ta tiếp tục?”
“Cứ để bà ta tiếp tục nấu canh, tối nào thiếp cũng nhận, rồi đổ đi. Ông chủ Hồi Xuân đường sẽ kê thêm cho thiếp một thang thuốc khiến sắc mặt nhợt nhạt, để bà ta tin là độc đang ngấm dần.” Nàng ngừng lại một thoáng. “Thái hậu muốn thiếp chết như Thục phi năm xưa, thì thiếp sẽ cho bà ta xem thiếp chết dần như thế nào. Bà ta càng tin, càng dễ sơ hở.”
Tiêu Trầm nhìn nàng rất lâu, rồi đưa tay kéo nàng ngồi lên đùi mình, siết chặt lấy eo nàng.
“Nàng có biết, nghe nàng nói mấy chữ chết dần ấy, ta lại muốn rút kiếm ra lần nữa không?”
“Chỉ là diễn kịch thôi mà.”
“Ta biết là diễn kịch.” Chàng vùi mặt vào vai nàng. “Nhưng từ nay về sau, mỗi bát cơm, mỗi chén trà nàng uống, ta đều phải tự mình nếm trước. Chuyện này nàng không được cãi ta.”
Uyển Ninh định nói chàng là Nhiếp chính vương, sao có thể làm việc của kẻ thử độc, nhưng nhìn ánh mắt chàng, nàng lại chẳng nói được gì, chỉ khẽ gật đầu.
Nửa tháng sau, Uyển Ninh bắt đầu “đổ bệnh”.
Sắc mặt nàng nhợt nhạt dần, hai má hóp đi, ngày ngày nằm trên sập ở hiên Thanh Phong viện phơi nắng, cứ một lát lại thiu thiu ngủ. Tôn ma ma theo nàng vào vương phủ, đã được nàng kể hết sự tình, ngày nào cũng ngồi bên cạnh khóc sụt sùi, khóc thật đến mức cả phủ đều tin vương phi bệnh nặng lắm. Tiêu Trầm gọi thái y đến xem, thái y bắt mạch xong chỉ nói vương phi khí huyết hư nhược, kê mấy thang thuốc bổ rồi lui ra.
Phương ma ma tối tối vẫn bưng canh tổ yến đến. Chỉ có điều, mỗi lần nhìn vương phi đưa bát canh lên môi, nụ cười trên mặt bà ta lại thêm một phần hài lòng.
Ngày mùng một tháng mười, Phương ma ma xin nghỉ nửa ngày, nói là đi chùa Hộ Quốc dâng hương cầu phúc cho vương phi.
Ám vệ của Tiêu Trầm theo sau bà ta suốt quãng đường. Ở hậu viện chùa Hộ Quốc, sau gốc cây bồ đề cổ thụ, bà ta gặp một thái giám mặc áo xám, nhận từ tay hắn một chiếc hộp gỗ nhỏ. Thái giám ấy vừa quay đi chưa được ba bước, đã bị hai bóng người áo đen bịt miệng lôi vào sau tường, còn Phương ma ma thì bị bắt ngay khi đang cất chiếc hộp vào trong áo.
Trong hộp là một lọ sứ trắng nhỏ, nút lọ bằng sáp ong, trên sáp còn in rõ dấu ấn hình phượng của Từ Ninh cung.
Phương ma ma bị giải về vương phủ lúc trời đã sẩm tối, quỳ giữa thư phòng, mặt mày xám ngắt.
Tiêu Trầm ngồi sau án thư, không nói gì, chỉ đặt lọ sứ trắng lên bàn. Uyển Ninh ngồi bên cạnh chàng, sắc mặt vẫn còn nhợt nhạt vì thuốc, nhưng ánh mắt thì sáng rõ, chẳng còn chút lờ đờ nào.
Phương ma ma ngẩng lên nhìn vương phi, mặt cắt không còn giọt máu.
“Vương phi… vương phi không…”
“Từ cuối tháng chín, ta chưa uống một ngụm nào,” Uyển Ninh nói, giọng bình thản. “Phương ma ma, bà theo vương gia tám năm, vương gia chưa từng bạc đãi bà một ngày. Ta về phủ mấy tháng, cũng chưa từng làm khó bà một lần. Vì cớ gì bà lại muốn ta chết?”
Phương ma ma run lẩy bẩy, môi mấp máy mãi mới thốt ra được mấy chữ:
“Con trai lão nô… con trai lão nô đang ở trong tay phủ Thừa ân công…”
Bà ta gục đầu xuống sàn, khóc nức nở. Bà ta kể, năm xưa bà ta là cung nữ hầu hạ trong cung của Thục phi. Thục phi qua đời, cả cung bị giải tán, bà ta bị đuổi ra ngoài, đúng lúc ấy thì có người của hoàng hậu, tức Thái hậu bây giờ, tìm đến, nói sẽ lo cho con trai bà ta được đi học, được làm người tử tế, chỉ cần bà ta vào phủ của Tiêu Trầm làm việc, đợi đến ngày cần dùng. Tám năm nay, bà ta chưa từng làm gì cả, đến tận rằm tháng tám năm nay mới nhận được lọ thuốc đầu tiên.
“Thục phi…” Tiêu Trầm bỗng lên tiếng, giọng trầm đến mức đáng sợ. “Bà từng hầu hạ Thục phi nương nương?”
“Dạ phải…” Phương ma ma ngẩng lên, nước mắt giàn giụa. “Năm ấy, lão nô là người bưng canh cho Thục phi nương nương mỗi tối. Canh ấy do người của Khôn Ninh cung đưa sang, nói là hoàng hậu thương Thục phi sinh nở vất vả, ban cho để tẩm bổ. Lão nô không biết… lão nô thật sự không biết trong canh có gì, mãi đến khi nương nương đi rồi, lão nô thấy con mèo của nương nương cũng rụng hết lông mà chết, mới đoán ra…”
Bà ta dập đầu xuống sàn, máu rỉ ra trên trán.
“Tám năm nay lão nô không dám nói với ai. Vương gia tha mạng, lão nô xin làm chứng, chuyện gì lão nô cũng xin làm chứng…”
Trong thư phòng lặng ngắt như tờ.
Uyển Ninh quay sang nhìn Tiêu Trầm. Chàng ngồi bất động sau án thư, mặt trắng bệch, đôi mắt đen thẫm nhìn chằm chằm vào lọ sứ trắng trên bàn, như nhìn vào một vực thẳm.
Nàng biết chàng đang nghĩ gì. Thục phi là sinh mẫu của hoàng thượng. Năm ấy tiên đế còn tại thế, Tiêu Trầm mới mười lăm tuổi, mẹ ruột mất sớm, trong cung ngoài hoàng huynh ra, chỉ có Thục phi là đối đãi với chàng như em ruột, may áo cho chàng, nấu canh cho chàng, những đêm chàng sốt còn thức trắng ngồi bên. Thục phi qua đời, chàng vừa theo quân ra biên ải được mấy tháng, đến khi trở về thì chỉ còn một nấm mồ xanh cỏ.
Rất lâu sau, Tiêu Trầm mới đứng dậy, đi đến bên song cửa, quay lưng về phía nàng.
“Tám năm,” chàng nói khẽ, giọng khàn đặc. “Ta cứ ngỡ Thục phi nương nương chết vì bệnh. Tám năm nay, ta vẫn gọi người đàn bà ấy một tiếng hoàng tẩu, cung kính hành lễ trước mặt bà ta, nhìn bà ta ôm con của Thục phi nương nương trong lòng mà xưng là mẫu hậu.”
Uyển Ninh bước đến sau lưng chàng, vòng tay ôm lấy eo chàng, áp má vào lưng chàng, không nói gì cả.
Chàng đứng yên rất lâu, rồi đặt tay mình lên tay nàng, siết chặt.
“Ninh Ninh,” chàng gọi, “nếu không có nàng, ta sẽ chẳng bao giờ biết được sự thật này.”
Cũng trong những ngày ấy, ở cửa sau phủ Thừa ân công, có một chiếc kiệu nhỏ không treo đèn, cứ ba ngày lại dừng một lần.
Người bước xuống kiệu mặc áo choàng màu xám, mũ trùm kín đầu, lặng lẽ theo một nha hoàn đi qua mấy dãy hành lang, vào một tiểu viện ở góc tây phủ. Trong tiểu viện, đèn chỉ thắp một ngọn, rèm buông kín.
Mạnh Diên ngồi trên sập, áo trung y mở hờ, tay mân mê chiếc nhẫn ngọc trên ngón cái, thấy người kia bước vào thì khẽ cười.
“Lục thiếu phu nhân lại đến rồi.”
Liễu Như Yên cởi áo choàng xuống. Hai tháng nay, nàng ta đã lấy lại được da thịt, hai má hồng hào trở lại, lưng đã lành hẳn, chỉ còn mấy vệt sẹo mờ. Nàng ta bước đến bên sập, ngồi xuống cạnh Mạnh Diên, ngả đầu vào vai hắn, giọng mềm như nước:
“Thế tử bảo thiếp ba ngày đến một lần, thiếp nào dám đến muộn.”
Mạnh Diên cười, kéo nàng ta vào lòng, tay luồn vào vạt áo nàng ta, chậm rãi mơn trớn. Như Yên ngửa cổ ra, mắt nhắm hờ, môi khẽ hé, để mặc hắn muốn làm gì thì làm. Ngọn đèn duy nhất trong phòng bị cánh tay hắn gạt đổ, tắt phụt, chỉ còn tiếng thở dồn dập và tiếng xiêm áo rơi xuống nền gạch.
Lúc mọi thứ đã lắng xuống, Mạnh Diên nằm ngửa trên sập, tay vuốt ve mái tóc xoã của Như Yên đang gối đầu trên ngực mình, giọng thản nhiên như bàn chuyện mưa nắng:
“Việc lần trước ta dặn nàng, đã làm được chưa?”
Như Yên rút từ trong đống áo dưới sàn ra một bọc vải nhỏ, mở ra. Bên trong là một con ấn bằng đồng, dưới đáy khắc mấy chữ: Hộ bộ thanh lại ty tư vụ Lục Cảnh Hành.
“Đêm qua chàng ta say rượu, thiếp lấy từ trong hộp bút ra,” nàng ta nói, giọng không chút do dự. “Sáng mai thiếp phải đặt lại chỗ cũ trước khi chàng ta tỉnh dậy.”
Mạnh Diên cầm con ấn lên, ngắm nghía dưới ánh trăng lọt qua khe rèm, rồi bật cười.
“Nàng có biết ta cần con ấn này để làm gì không?”
“Thiếp không cần biết.” Như Yên vòng tay ôm lấy cổ hắn. “Thiếp chỉ cần biết, sau khi xong việc, thế tử hứa đưa thiếp vào phủ, cho thiếp một danh phận, một gian viện riêng, một rương bạc.”
“Nàng không thương phu quân của nàng chút nào sao?”
Như Yên bật cười, tiếng cười lạnh như băng.
“Thương ư? Lúc thiếp nằm trên tấm ván gỗ máu me đầy người, chàng ta túm tóc thiếp đập đầu vào thành giường, gọi thiếp là con chó vô dụng. Chàng ta nằm cạnh thiếp, trong mơ còn gọi tên Tô Uyển Ninh.” Nàng ta cúi xuống, đặt một nụ hôn lên môi Mạnh Diên. “Thiếp thương chàng ta, thì ai thương thiếp đây?”
Mạnh Diên cười khẽ, siết nàng ta vào lòng, tay đặt lên bụng nàng ta, xoa nhẹ.
“Gần đây nàng có thấy trong người khác lạ không?”
Như Yên khựng lại một thoáng, rồi khẽ gật đầu.
“Tháng này thiếp chưa thấy kinh nguyệt.”
Nửa tháng sau, Như Yên báo tin có thai với cả Lục phủ.
Lục phu nhân mừng đến rơi nước mắt, mấy tháng nay chưa từng có một lời tử tế với con dâu, nay lại tự tay nấu canh gà mang đến. Lục Cảnh Hành cũng như biến thành một người khác. Hắn không còn say rượu, không còn đánh mắng, tối nào cũng về sớm, ngồi bên giường nắm tay Như Yên, áp tai lên bụng nàng ta mà cười ngây ngô, nói con trai của ta sau này nhất định phải đỗ trạng nguyên, rửa sạch mọi nhục nhã cho Lục gia.
Như Yên nằm trên giường, để mặc hắn áp tai lên bụng mình, mắt nhìn lên màn trướng, khoé môi cong lên một nụ cười chẳng ai hiểu được.
Tháng mười một, tuyết đầu mùa rơi xuống kinh thành.
Cũng ngay trong tháng ấy, Bắc cương có tấu chương khẩn gửi về. Hai mươi vạn lượng bạc quân lương mùa đông Hộ bộ phát ra từ tháng chín, đến tay quân Bắc cương chỉ còn chưa đầy một nửa. Binh sĩ thiếu áo bông, thiếu lương thực, đã có hơn ba trăm người chết rét trong doanh trại.
Tiêu Trầm đập vỡ cả chiếc nghiên mực giữa triều đường, ra lệnh cho Đại Lý tự tra xét đến cùng.
Đại Lý tự lục lại sổ sách kho bạc Hộ bộ, phát hiện mười hai tờ phiếu xuất kho trong tháng chín đều có dấu ấn của tư vụ Thanh lại ty Lục Cảnh Hành. Bạc ra khỏi kho bằng những tờ phiếu ấy, đã biến mất không còn dấu vết.
Lục Cảnh Hành bị gọi lên Đại Lý tự đối chất. Hắn nhìn mười hai tờ phiếu bày trên bàn, nhìn dấu ấn đỏ tươi in rõ tên mình, mặt cắt không còn giọt máu. Hắn thề trước trời đất rằng chưa từng đóng những tờ phiếu này, con ấn của hắn trước nay chưa từng rời khỏi hộp bút trong thư phòng. Nhưng chẳng ai tin hắn cả.
Đại Lý tự khanh cho hắn ba ngày về nhà thu xếp, ba ngày sau phải tự mình đến nha môn chịu thẩm vấn. Tội tham ô quân lương khiến binh sĩ chết rét, nhẹ thì lưu đày ba nghìn dặm, nặng thì chém đầu, cả nhà bị tịch biên.
Lục Cảnh Hành chạy đến phủ Thừa ân công cầu cứu, quỳ ngoài cổng suốt một ngày, chẳng ai ra mở cửa. Hắn chạy đến nhà mấy vị đồng liêu ở Hộ bộ, nhà nào cũng đóng cổng không tiếp.
Đến ngày thứ ba, hắn không còn chỗ nào để đi nữa.
Chiều hôm ấy, tuyết rơi dày đặc.
Uyển Ninh đang ngồi bên lò sưởi trong Thanh Phong viện, Tuyết Đoàn nằm cuộn tròn trên đùi. Con mèo đã khoẻ lại, lông mọc dày mượt trở lại, đôi mắt xanh biếc lại tinh nghịch như cũ. Tôn ma ma bước vào, nét mặt khó xử, hạ giọng thưa:
“Vương phi, ngoài cổng vương phủ có người quỳ, đã quỳ hơn một canh giờ rồi. Là Lục công tử.”
Uyển Ninh vuốt lông con mèo, không ngẩng lên.
“Hắn đến đây làm gì?”
“Hắn nói muốn gặp vương phi một lần, nói vương phi nhất định sẽ cứu hắn, nói… nói vương phi với hắn từng có tình xưa.”
Tay Uyển Ninh khựng lại trên lưng con mèo. Một lúc sau, nàng đặt Tuyết Đoàn xuống, đứng dậy.
“Ma ma lấy áo choàng cho con.”
Cổng vương phủ phủ đầy tuyết trắng.
Lục Cảnh Hành quỳ giữa nền đá trước cổng, áo trắng đã ướt sũng tuyết, tóc tai rũ rượi, môi tím tái vì lạnh. Hai má hắn hốc hác, mắt thâm quầng, cả người run lên bần bật, chẳng còn chút gì của vị công tử ngọc thụ lâm phong năm nào.
Nghe tiếng cổng mở, hắn ngẩng phắt lên.
Uyển Ninh đứng trên bậc thềm, khoác tấm áo choàng lông cáo trắng muốt, tay ôm lò sưởi nhỏ bằng đồng, gương mặt hồng hào dưới ánh tuyết, cây trâm bạch ngọc hải đường cài trên tóc.
Tấm áo choàng lông cáo ấy là Tiêu Trầm sai người lên tận Liêu Đông săn về cho nàng. Chàng nói, tấm áo của mẫu thân nàng trong giấc mơ ấy đã bị kẻ khác khoác lên người, thì nay ta đền cho nàng một tấm khác, đẹp hơn, ấm hơn, chỉ mình nàng được mặc.
Lục Cảnh Hành nhìn nàng, đôi mắt đỏ ngầu bỗng sáng lên. Hắn lết đầu gối trên nền tuyết, bò lên mấy bước:
“Uyển Ninh! Uyển Ninh, nàng cứu ta với! Ta bị người ta hãm hại, ta chưa từng đóng những tờ phiếu ấy, nàng tin ta có phải không? Nàng nói với vương gia, nàng xin vương gia tha cho ta, vương gia thương nàng như vậy, nhất định sẽ nghe lời nàng…”
Uyển Ninh nhìn xuống hắn, không nói gì.
“Uyển Ninh,” hắn khóc nấc lên, “nàng còn nhớ hội đèn Thượng nguyên năm ngoái không? Ta tặng nàng một chiếc đèn hoa sen, nàng cầm lấy mà đỏ cả mặt. Ta biết ta sai rồi, ta không nên cưới Như Yên, ta hối hận lắm rồi. Nàng nể chút tình xưa, cứu ta một lần thôi…”
Tuyết rơi lả tả trên vai hắn, trên tóc hắn, trên đôi bàn tay đang chống xuống nền đá lạnh.
Uyển Ninh chợt nhớ đến một đêm tuyết khác. Đêm ấy, chính người đàn ông này đứng trong căn phòng không có than, nhìn nàng nằm dưới nền gạch lạnh, rồi nói với một người đàn bà khác rằng đừng ở đây lâu, kẻo nhiễm phải bệnh khí. Chỉ là những điều ấy, kiếp này hắn sẽ chẳng bao giờ biết được.
“Lục công tử,” nàng nói, giọng nhẹ nhàng mà rõ ràng từng chữ, “chiếc đèn hoa sen ấy, ta vẫn còn nhớ. Có điều ta cũng nhớ, người tặng ta chiếc đèn ấy, chẳng bao lâu sau đã ôm biểu muội của mình sau bức giả sơn trong hoa viên nhà ta.”
Lục Cảnh Hành sững người.
“Ta không cứu được công tử đâu,” nàng nói tiếp, “vì kẻ hại công tử không phải ta, cũng chẳng phải vương gia.” Nàng ngừng lại một thoáng. “Công tử có từng nghĩ, đêm hai mươi tháng chín, lúc công tử say rượu ngủ quên trong thư phòng, con ấn trong hộp bút của công tử đã nằm trong tay ai không?”
Mặt Lục Cảnh Hành trắng bệch.
“Công tử về đi,” Uyển Ninh nói. “Về mà hỏi người đang mang thai trong phủ công tử, xem mấy tháng nay, cứ ba ngày một lần, nàng ta đi chùa dâng hương ở đâu.”
Nàng xoay người định vào trong, thì sau lưng nàng đã có người.
Tiêu Trầm đứng ở ngưỡng cửa từ lúc nào chẳng biết, trên vai còn đọng mấy bông tuyết, rõ ràng vừa từ trong cung về. Chàng không nhìn Lục Cảnh Hành lấy một cái, chỉ bước đến bên Uyển Ninh, cầm lấy lò sưởi trong tay nàng, áp tay mình lên tay nàng xem có lạnh không, rồi chỉnh lại mũ áo choàng cho nàng, kéo kín đến tận cằm.
“Trời rét thế này, sao nàng lại ra đây?” Chàng khẽ trách. “Tay nàng lạnh hết cả rồi.”
“Thiếp chỉ ra nói mấy câu thôi mà.”
“Nói xong rồi thì vào trong với ta.”
Chàng choàng tay qua vai nàng, kéo nàng sát vào người mình, dìu nàng bước vào trong. Cánh cổng vương phủ nặng nề khép lại sau lưng hai người.
Lục Cảnh Hành quỳ giữa tuyết, nhìn theo bóng hai người khuất sau cánh cổng, nhìn tấm áo choàng lông cáo trắng muốt trên vai nàng, nhìn bàn tay Nhiếp chính vương đặt trên vai nàng, ấm áp và che chở.
Hắn chợt nhớ ra, những lần gặp nàng trước kia, ở hội thơ, ở hội đèn, hắn đã tặng nàng biết bao nhiêu thứ, nói với nàng biết bao nhiêu lời ngọt ngào, nhưng chưa từng có lần nào hắn hỏi tay nàng có lạnh không.
Từ đầu phố, tiếng vó ngựa dồn dập vang lên. Một toán nha dịch của Đại Lý tự phi đến, dừng ngay trước mặt hắn. Người cầm đầu nhảy xuống ngựa, giơ tấm lệnh bài lên:
“Lục Cảnh Hành, hạn ba ngày đã hết, theo chúng ta về nha môn!”
Gông sắt khoá lên cổ hắn, lạnh buốt như tuyết. Hắn bị lôi đi giữa con phố trắng xoá, để lại trên nền tuyết trước cổng vương phủ hai vết đầu gối hằn sâu, chẳng mấy chốc đã bị tuyết mới phủ lấp.
Đêm ấy, trong Thanh Phong viện, Tiêu Trầm ngồi trên giường, kéo Uyển Ninh vào lòng, cầm hai bàn tay nàng áp lên ngực mình cho ấm.
“Tay nàng vẫn còn lạnh.”
“Đã ấm lại lâu rồi mà.”
“Ta thấy vẫn còn lạnh.” Chàng không chịu buông, cúi xuống hà hơi vào lòng bàn tay nàng, rồi hôn lên từng đầu ngón tay. “Lần sau hắn có đến nữa, nàng cứ để hắn quỳ đến chết cóng cũng được, đừng ra.”
Uyển Ninh bật cười, tựa đầu vào vai chàng.
“Hắn sẽ không đến nữa đâu. Bây giờ hắn đã nằm trong ngục Đại Lý tự rồi.”
“Nàng định để hắn chết trong ấy sao?”
Uyển Ninh im lặng một lúc, rồi khẽ lắc đầu.
“Hắn không phải kẻ đóng những tờ phiếu ấy. Kẻ thật sự lấy hai mươi vạn lượng bạc quân lương là phủ Thừa ân công. Nếu hắn chết, bọn chúng sẽ ung dung thoát tội.” Nàng ngẩng lên nhìn chàng. “Thiếp muốn hắn sống, sống để tận mắt nhìn thấy người hắn nằm cạnh mỗi đêm đã bán hắn cho ai, sống để biết đứa con hắn áp tai vào nghe mỗi tối là con của ai.”
Tiêu Trầm nhìn nàng rất lâu, rồi khẽ thở dài, cúi xuống hôn lên trán nàng.
“Vương phi của ta, sao lại có thể vừa dịu dàng vừa đáng sợ đến thế này.”
“Chàng sợ thiếp sao?”
“Ta sợ chứ.” Chàng siết nàng chặt hơn, giọng trầm xuống, mang theo ý cười. “Ta sợ có ngày nàng giận ta, cũng nghĩ ra cách đối phó với ta như thế.”
Uyển Ninh đưa tay véo nhẹ vào eo chàng, chàng kêu lên một tiếng, rồi bật cười, lật người đè nàng xuống giường. Tuyết Đoàn đang nằm cuối giường bị giật mình, kêu lên một tiếng bất mãn, nhảy xuống đất, chui tọt vào gầm bàn.
Cũng đêm ấy, ở Từ Ninh cung, Thái hậu nhận được tin.
Thái giám áo xám mang thuốc đến chùa Hộ Quốc đã mất tích nửa tháng nay. Phương ma ma không còn đưa tin ra ngoài nữa. Còn vương phi của Nhiếp chính vương, chiều nay có người trông thấy đứng trên bậc thềm vương phủ giữa trời tuyết, sắc mặt hồng hào, giọng nói rõ ràng, chẳng có chút gì giống người sắp chết.
Thái hậu ngồi lặng trên phượng tọa, rất lâu chẳng nói câu nào.
Rồi bà ta bật cười, tiếng cười khe khẽ vang lên trong đại điện trống trải, lạnh lẽo như gió đêm đông.
“Hắn đã biết rồi,” bà ta nói, giọng nhẹ như hơi thở. “Hắn đã biết chuyện của Thục phi.”
Tống ma ma quỳ dưới thềm, run rẩy không dám ngẩng đầu lên.
“Truyền Thừa ân công vào cung,” Thái hậu đứng dậy, hộ giáp vàng gõ lên tay vịn phượng tọa từng tiếng một, chậm rãi và lạnh lùng. “Truyền cả Thống lĩnh cấm quân Mạnh Hoài nữa. Đông chí sắp đến rồi, hoàng thượng phải ra Thiên Đàn tế trời. Ngày ấy, Nhiếp chính vương cũng phải đi theo hộ giá.”
Bà ta đi đến bên song cửa, nhìn ra màn tuyết trắng xoá phủ kín hoàng thành.
“Đã không giết được con tiện nhân ấy một cách êm thấm,” bà ta mỉm cười, “thì ai gia đành giết cả hai đứa một lần cho xong.”
(Hết chương 6)
Comments for chapter "Chương 6"
BÌNH LUẬN TRUYỆN
Madara Info
Madara stands as a beacon for those desiring to craft a captivating online comic and manga reading platform on WordPress
For custom work request, please send email to wpstylish(at)gmail(dot)com