Chương 7
Đêm trước Đông chí, tuyết ngừng rơi.
Trăng hạ huyền treo lơ lửng trên mái ngói vương phủ, soi xuống khoảnh sân phủ tuyết trắng, sáng đến mức như ban ngày. Trong Thanh Phong viện, lò sưởi cháy đỏ rực, Tuyết Đoàn nằm cuộn tròn bên lò, thỉnh thoảng lại vẫy đuôi một cái.
Tiêu Trầm ngồi trên giường, kéo Uyển Ninh vào lòng, trải một tấm bản đồ lên chăn trước mặt hai người.
“Ta đã hứa với nàng, sẽ không giấu nàng điều gì nữa,” chàng nói, giọng trầm thấp. “Nên đêm nay, ta kể hết cho nàng nghe.”
Chàng chỉ lên tấm bản đồ. Đây là Thiên Đàn ở phía nam kinh thành, sáng mai hoàng thượng phải đến tế trời, bá quan văn võ đều đi theo. Cấm quân canh giữ quanh đàn do Mạnh Hoài, con thứ của Thừa ân công, thống lĩnh. Mấy hôm nay, ám vệ của chàng đã dò ra, Mạnh Hoài lén điều thêm ba nghìn cấm quân mai phục quanh Thiên Đàn, lại cho một toán năm trăm người đóng sẵn ở hai đầu phố, chỉ cách vương phủ chưa đầy một khắc ngựa phi.
“Thái hậu đã cho người làm giả một bức thư, nói ta thông đồng với Bắc Hồ, định nhân lúc tế trời mà bắt giữ hoàng thượng,” chàng nói. “Sáng mai, ngay trên Thiên Đàn, trước mặt bá quan, Mạnh Hoài sẽ trình bức thư ấy lên, rồi bắt ta tại chỗ. Cùng lúc ấy, toán quân kia sẽ ập vào vương phủ, bắt nàng làm con tin.”
Uyển Ninh nhìn tấm bản đồ, ngón tay lạnh dần.
“Còn chàng thì sao? Chàng đã chuẩn bị những gì?”
“Kinh kỳ vệ đóng ở ngoại thành phía nam có tám nghìn người, Thống lĩnh là Hàn Liệt, phó tướng của ta năm xưa ở Nhạn Môn quan.” Chàng chỉ vào một điểm cách Thiên Đàn chừng năm dặm. “Đêm nay, hắn sẽ dẫn quân lặng lẽ áp sát. Chỉ cần Mạnh Hoài ra tay trước, Kinh kỳ vệ sẽ có cớ tiến vào hộ giá. Chỉ có điều, như thế mới chỉ dẹp được binh biến. Muốn lật đổ được Thái hậu, ta còn cần một thứ khác.”
“Chàng cần bằng chứng,” Uyển Ninh nói khẽ, “trước mặt hoàng thượng và bá quan, để không ai có thể nói chàng giết hại hoàng tẩu để đoạt quyền.”
Tiêu Trầm nhìn nàng, khẽ gật đầu.
Uyển Ninh im lặng một lúc lâu, rồi chậm rãi rút từ trong ngăn tủ đầu giường ra một chiếc hộp gỗ nhỏ, mở ra, đặt lên tấm bản đồ.
Trong hộp là một xấp giấy tờ, trên cùng là một tờ khế ước mua bán ruộng đất.
“Hai trăm mẫu ruộng ở Thông Châu Lục gia bán gấp hôm rước dâu,” nàng nói, “Châu bá lần theo tờ khế ước này, mới biết người mua là một gã quản sự của phủ Thừa ân công đứng tên thay. Tháng chín năm nay, giữa đêm khuya, có mười mấy cỗ xe ngựa chở hàng nặng đi vào điền trang ấy, chẳng thấy chở ra lần nào. Châu bá bỏ ra mấy chục lượng bạc mua chuộc một tá điền trong trang, mới biết dưới hầm rượu của điền trang có chôn mấy chục rương bạc, mỗi rương đều đóng dấu kho bạc Hộ bộ.”
Tiêu Trầm cầm xấp giấy lên, lật xem từng tờ một. Càng xem, ánh mắt chàng càng sáng lên.
“Nàng giấu ta chuyện này bao lâu rồi?”
“Chưa đến mười ngày,” Uyển Ninh mỉm cười. “Thiếp định đợi chắc chắn rồi mới nói với chàng. Ai ngờ chàng lại nói trước.”
Chàng đặt xấp giấy xuống, nhìn nàng rất lâu, rồi kéo nàng vào lòng, hôn lên tóc nàng.
“Sáng mai, nàng không được ở lại vương phủ,” chàng nói. “Dưới thư phòng có một đường hầm dẫn sang phủ Gia Hòa trưởng công chúa ở phố bên. Đêm nay, nàng mang theo Tôn ma ma, Bích Đào, Phương ma ma và tên thái giám áo xám sang đó trước. Ta đã dặn hoàng tỷ, ngày mai sẽ có người hộ tống nàng.”
“Hộ tống thiếp đi đâu?”
“Đi đâu cũng được, miễn là cách xa Thiên Đàn.”
Uyển Ninh ngẩng lên nhìn chàng.
“Chàng cần người làm chứng trước mặt hoàng thượng,” nàng nói, giọng nhỏ nhẹ mà kiên quyết. “Phương ma ma là người duy nhất biết chuyện của Thục phi nương nương, tên thái giám áo xám là người duy nhất có thể chỉ thẳng vào Từ Ninh cung. Ngoài thiếp ra, họ sẽ không nghe lời ai cả. Thiếp phải đưa họ đến Thiên Đàn, đúng lúc chàng cần.”
“Không được.” Giọng chàng trầm hẳn xuống. “Trên Thiên Đàn ngày mai sẽ đổ máu. Ta không thể để nàng…”
“Chàng có nhớ ở Thanh Khê trang, chàng hỏi thiếp nên tin thiếp đến mức nào không?” Uyển Ninh đưa tay đặt lên má chàng. “Bây giờ thiếp hỏi lại chàng. Chàng tin thiếp đến mức nào?”
Tiêu Trầm nhìn nàng rất lâu, đôi mắt đen thẫm đầy giằng xé. Cuối cùng, chàng nắm lấy tay nàng đang đặt trên má mình, đưa lên môi, hôn thật lâu vào lòng bàn tay nàng.
“Ta tin nàng hơn tin chính bản thân ta,” chàng khàn giọng nói. “Nhưng nàng phải hứa với ta, đứng sau lưng hoàng tỷ, không được bước lên trước một bước nào, nếu có chuyện gì thì phải chạy ngay, không được ngoái lại.”
“Thiếp hứa.”
Chàng kéo nàng vào lòng, siết thật chặt, rồi cúi xuống hôn nàng. Nụ hôn ấy dài và sâu, mang theo cả nỗi lo lắng lẫn khao khát, như muốn khắc nàng vào trong tim mình. Đêm ấy, chàng ôm nàng mãi không buông, cho đến khi trăng hạ huyền đã ngả về tây, cho đến khi Tần quản gia khẽ gõ cửa báo rằng đã đến giờ.
Giờ Mão ngày Đông chí, đại giá rời hoàng cung, tiến về Thiên Đàn.
Trời lạnh căm căm, gió bấc thổi phần phật trên những lá cờ vàng thêu rồng. Hoàng thượng mới tám tuổi, mặc long bào, đội mũ miện, ngồi trên ngự liễn, khuôn mặt nhỏ đỏ ửng vì lạnh. Thái hậu ngồi kiệu phượng đi ngay sau, áo gấm vàng thêu phượng, tay đeo hộ giáp vàng, sắc mặt điềm nhiên như chẳng có chuyện gì.
Tiêu Trầm cưỡi ngựa đi bên cạnh ngự liễn, áo giáp nhẹ khoác ngoài triều phục, thanh kiếm đeo bên hông.
Thiên Đàn nằm giữa một khu đất rộng phía nam kinh thành, ba tầng đàn đá trắng xếp chồng lên nhau, trên cùng là đàn tế hình tròn, chung quanh dựng lan can bạch ngọc. Ba nghìn cấm quân xếp hàng dài quanh chân đàn, giáo mác sáng loáng dưới ánh nắng sớm.
Lễ tế kéo dài hơn một canh giờ. Hoàng thượng dâng hương, đọc văn tế, quỳ lạy ba lần chín lạy trước bài vị trời đất. Bá quan văn võ quỳ rạp dưới chân đàn, không ai dám ngẩng đầu lên.
Đến khi lễ tế vừa xong, hoàng thượng còn chưa kịp bước xuống bậc đàn, Thống lĩnh cấm quân Mạnh Hoài đã bước ra khỏi hàng, quỳ một gối trước Thái hậu, hai tay dâng lên một phong thư:
“Thần có việc khẩn cấp, xin bẩm Thái hậu và hoàng thượng!”
Cả Thiên Đàn lặng đi.
Thái hậu nhận lấy phong thư, mở ra, đọc lướt qua, sắc mặt biến đổi. Rồi bà ta đứng dậy, quay về phía Tiêu Trầm, giọng run lên như phẫn nộ lắm:
“Nhiếp chính vương! Đây là thư ngươi gửi cho Tả hiền vương Bắc Hồ, hẹn ngày Đông chí nhân lúc tế trời bắt giữ hoàng thượng, mở cửa Nhạn Môn quan cho quân Hồ tràn xuống! Ngươi còn gì để nói nữa?”
Tiếng xôn xao nổi lên khắp chân đàn. Bá quan nhìn nhau, mặt cắt không còn giọt máu.
Tiêu Trầm đứng trên bậc đàn, chẳng hề nhúc nhích. Chàng nhìn phong thư trong tay Thái hậu, khoé môi khẽ nhếch lên.
“Thư ấy viết bằng chữ của thần sao?”
“Có dấu ấn riêng của ngươi!”
“Dấu ấn của thần, tháng trước đã bị Hộ bộ mượn đóng lên phiếu điều quân lương, cũng có thể là có kẻ khắc giả.” Chàng chậm rãi nói. “Thái hậu tin vào một phong thư không rõ lai lịch, mà không tin vào kẻ đã giữ Nhạn Môn quan suốt bốn mươi ngày cho Đại Lương hay sao?”
“Bắt lấy hắn!” Thái hậu không để chàng nói thêm, quát lên một tiếng. “Mạnh Hoài, bắt lấy tên phản nghịch này cho ai gia!”
Ba nghìn cấm quân dưới chân đàn đồng loạt tuốt đao, ùn ùn xông lên bậc đá.
Hoàng thượng đứng trên đàn tế, mặt trắng bệch, hai tay níu chặt lấy vạt áo của thái giám Đức Phúc, nước mắt lưng tròng, chẳng biết phải làm gì.
Đúng lúc ấy, từ phía nam vang lên tiếng tù và trầm hùng, kéo dài như tiếng sấm. Đất dưới chân rung lên bần bật. Tám nghìn quân Kinh kỳ vệ mặc giáp đen từ ba phía tràn vào như nước vỡ bờ, vây chặt lấy toàn bộ Thiên Đàn. Đi đầu là một vị tướng râu ria xồm xoàm, cầm ngọn trường thương, cất giọng sang sảng:
“Kinh kỳ vệ Thống lĩnh Hàn Liệt, nghe tin có kẻ mưu đồ làm loạn tại Thiên Đàn, đến hộ giá hoàng thượng!”
Cấm quân trên bậc đàn khựng lại, nhìn nhau, chẳng dám tiến thêm bước nào.
Sắc mặt Thái hậu tái mét.
“Hoàng thượng.”
Giọng nói ấy vang lên từ phía sau đàn tế, không lớn, nhưng rõ ràng.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía ấy. Gia Hòa trưởng công chúa bước lên bậc đàn, áo gấm tím thêu phượng, sắc mặt nghiêm nghị. Đi sau trưởng công chúa nửa bước là Nhiếp chính vương phi, khoác tấm áo choàng lông cáo trắng muốt, tóc cài trâm bạch ngọc hải đường. Theo sau hai người là một bà lão thấp đậm và một thái giám áo xám, cả hai đều bị trói tay, quỳ sụp xuống bậc đá.
Tiêu Trầm nhìn thấy nàng, sắc mặt thoáng biến đổi, nhưng chỉ trong khoảnh khắc. Chàng bước sang một bước, đứng chắn giữa nàng và đám cấm quân, tay đặt lên chuôi kiếm.
Uyển Ninh quỳ xuống trước mặt hoàng thượng, cúi đầu hành lễ, rồi hai tay dâng lên một chiếc hộp gỗ nhỏ.
“Thần phụ có bằng chứng muốn dâng lên hoàng thượng,” nàng nói, giọng ôn hoà mà vang khắp Thiên Đàn. “Không phải bằng chứng Nhiếp chính vương mưu phản, mà là bằng chứng có kẻ tham ô hai mươi vạn lượng quân lương Bắc cương, khiến ba trăm tướng sĩ chết rét. Và bằng chứng có kẻ đã đầu độc sinh mẫu của hoàng thượng.”
Cả Thiên Đàn chết lặng.
Hoàng thượng run rẩy nhìn nàng, đôi mắt tròn xoe đẫm nước:
“Hoàng thẩm… hoàng thẩm nói gì cơ? Sinh mẫu của trẫm… trẫm tưởng mẫu phi chết vì bệnh…”
Uyển Ninh không đáp. Nàng mở hộp ra, đặt trước mặt hoàng thượng từng thứ một.
Tờ khế ước mua hai trăm mẫu ruộng ở Thông Châu, đứng tên quản sự phủ Thừa ân công. Bản khai của tá điền trong trang, có điểm chỉ đỏ tươi. Một nén bạc mười lạng, dưới đáy còn rõ dấu kho bạc Hộ bộ, đào lên từ dưới hầm rượu của điền trang ấy.
Rồi đến một lọ sứ trắng nhỏ, nút lọ bằng sáp ong, trên sáp in dấu ấn hình phượng của Từ Ninh cung.
“Thứ trong lọ này tên là Hồng Nhan Tiếu,” Uyển Ninh nói, giọng vẫn bình thản. “Ba tháng trước, có người dùng nó bỏ vào canh tổ yến của thần phụ mỗi tối. Người ấy là Phương ma ma, quản sự phòng bếp vương phủ. Còn kẻ đưa thuốc cho bà ta, là tên thái giám áo xám này, người của Từ Ninh cung.”
Nàng ngừng lại một thoáng, rồi quay sang Phương ma ma:
“Phương ma ma, bà hãy nói cho hoàng thượng nghe, tám năm trước, bà đã bưng canh cho ai.”
Phương ma ma dập đầu xuống nền đá lạnh, khóc nấc lên, kể lại từng chuyện một. Bát canh tẩm bổ mỗi tối của Khôn Ninh cung, mái tóc rụng dần của Thục phi, con mèo rụng hết lông mà chết, tám năm sống trong sợ hãi, lọ thuốc đầu tiên nhận được vào rằm tháng tám năm nay.
Tên thái giám áo xám thì chẳng cần ai hỏi, đã run rẩy khai ra hết: chính Tống ma ma của Từ Ninh cung đưa lọ thuốc cho hắn, dặn hắn cứ mười ngày mang đến chùa Hộ Quốc một lần.
Mỗi câu họ nói ra, bá quan dưới chân đàn lại lặng thêm một phần. Có mấy vị lão thần từng làm quan dưới triều tiên đế, nhớ lại cái chết kỳ lạ của Thục phi năm xưa, mặt mày tái nhợt, run rẩy cả tay.
Hoàng thượng đứng trên đàn tế, khuôn mặt nhỏ bé trắng bệch. Cậu bé quay lại nhìn Thái hậu, người mà cậu gọi là mẫu hậu từ khi còn chưa biết nói, người đã ôm cậu ngủ những đêm cậu sốt, người đã dạy cậu viết chữ đầu tiên.
“Mẫu hậu,” hoàng thượng run giọng hỏi, nước mắt chảy dài trên má, “những điều họ nói… có thật không ạ?”
Thái hậu đứng sững tại chỗ. Bà ta nhìn đứa trẻ trước mặt, nhìn Phương ma ma đang quỳ, nhìn lọ sứ trắng trên bậc đá, nhìn tám nghìn quân Kinh kỳ vệ vây kín bốn phía. Lần đầu tiên trong đời, người đàn bà từng đứng trên đỉnh cao của hậu cung suốt mười mấy năm, không thốt ra được một lời nào.
Rồi bà ta bật cười.
Tiếng cười ban đầu khe khẽ, rồi mỗi lúc một to, vang lên giữa Thiên Đàn lạnh lẽo, nghe đến rợn người.
“Thật thì sao?” Bà ta ngừng cười, giọng bỗng trở nên lạnh lẽo vô cùng. “Ả ta được sủng ái, ả ta sinh được hoàng tử, còn ai gia làm hoàng hậu mười năm không có lấy một mụn con. Ai gia không giết ả, thì sớm muộn gì ả cũng giết ai gia.” Bà ta quay sang nhìn hoàng thượng, ánh mắt chẳng còn chút dịu dàng nào. “Ngươi tưởng ngươi được ngồi lên ngai vàng này là nhờ ai? Không có ai gia, ngươi chỉ là một đứa con mồ côi mẹ, sống chết trong lãnh cung mà thôi!”
Hoàng thượng loạng choạng lùi lại, ngã vào lòng Đức Phúc, khóc oà lên.
Thái hậu không nhìn đứa trẻ nữa. Bà ta quay sang Uyển Ninh, ánh mắt đỏ ngầu, rồi bỗng rút cây trâm Cửu phượng triều dương trên búi tóc, lao thẳng về phía nàng.
“Con tiện nhân! Tất cả là tại ngươi!”
Mọi chuyện xảy ra chỉ trong chớp mắt. Uyển Ninh còn chưa kịp lùi lại, một bóng áo huyền đã chắn trước mặt nàng.
Đầu nhọn của cây trâm đâm xuyên qua lòng bàn tay Tiêu Trầm.
Máu đỏ tươi nhỏ xuống nền đá trắng, từng giọt, từng giọt.
Tiêu Trầm không rút tay về. Chàng siết chặt lấy cây trâm trong lòng bàn tay đẫm máu, nhìn thẳng vào mắt Thái hậu, giọng trầm và lạnh như băng:
“Hoàng tẩu, cây trâm này là tiên đế ban cho người ngày sắc phong hoàng hậu. Người đã dùng nó gài bẫy vương phi của thần một lần rồi, đừng dùng nó thêm lần nữa.”
Chàng giật mạnh cây trâm khỏi tay bà ta, ném xuống nền đá. Chín con phượng vàng ròng lăn lóc dưới chân đàn, chín viên đông châu văng ra tứ phía.
Hai quân sĩ Kinh kỳ vệ bước lên, giữ chặt lấy Thái hậu.
Đông chí năm Cảnh Hòa thứ mười hai, Thiên Đàn nhuốm máu.
Mạnh Hoài định rút đao chống cự, bị Hàn Liệt đâm một thương xuyên vai, ngã nhào xuống bậc đá. Thừa ân công quỳ rạp dưới chân đàn, run lẩy bẩy, không dám ngẩng đầu. Ba nghìn cấm quân thấy đại thế đã mất, lần lượt buông đao xuống đất.
Ở vương phủ, năm trăm cấm quân phá cổng ập vào, chỉ tìm thấy Tần quản gia ngồi uống trà trong chính sảnh, cùng một con mèo trắng nằm cuộn tròn bên lò sưởi. Lúc họ còn đang lục soát, quân Kinh kỳ vệ đã kéo đến vây kín bốn mặt.
Bảy ngày sau, triều đình ban chiếu.
Phủ Thừa ân công tham ô hai mươi vạn lượng quân lương, khiến ba trăm tướng sĩ Bắc cương chết rét, lại cấu kết mưu đồ làm loạn tại Thiên Đàn, tội không thể tha. Thừa ân công cùng Mạnh Hoài bị xử trảm, Mạnh Diên bị lưu đày ra biên ải Bắc cương làm khổ dịch, toàn bộ gia sản phủ Thừa ân công bị tịch biên, hai mươi vạn lượng bạc đào lên từ điền trang Thông Châu được gửi ngay ra Bắc cương.
Còn Thái hậu, vì là hoàng hậu của tiên đế, lại có công nuôi dưỡng hoàng thượng, nên được miễn tội chết. Hoàng thượng hạ chỉ phế bỏ tôn hiệu, đày bà ta đến hoàng lăng ở Tây Sơn, ngày đêm quỳ trước bài vị của tiên đế và Thục phi mà sám hối, đến chết không được rời khỏi.
Ngày chiếu thư ban xuống, hoàng thượng khóc suốt một đêm trong Càn Thanh cung. Sáng hôm sau, cậu bé tự tay viết bốn chữ “Hiếu Ý hoàng hậu”, truy phong cho sinh mẫu của mình, rồi sai người dời bài vị Thục phi vào Thái miếu, đặt ngay bên cạnh bài vị tiên đế.
Mạnh Thanh Loan đã gả vào phủ Ninh quốc công từ tháng chín. Nghe tin nhà mẹ đẻ sụp đổ, nàng ta ngất đi mấy lần. Triệu Hoành chẳng thèm ngó ngàng, đêm đêm vẫn ở trong viện của thị thiếp. Người hầu trong phủ Ninh quốc công kể lại, từ ngày ấy, kế thất phu nhân hiếm khi bước ra khỏi viện, có hôm còn nghe tiếng đánh mắng vọng ra, mà chẳng ai dám hỏi.
Còn Liễu Như Yên, nàng ta biết tin phủ Thừa ân công bị tịch biên ngay chiều hôm Đông chí.
Đêm ấy, nàng ta lén mở rương của Lục phu nhân, lấy hết chỗ trang sức còn lại, lại gom hết số bạc vụn Mạnh Diên cho nàng ta mấy tháng nay, gói vào một bọc vải, nhân lúc nửa đêm trốn ra cửa sau, định thuê xe ngựa ra khỏi kinh thành.
Nàng ta chưa ra được đến cửa thành phía nam đã bị quan quân bắt lại.
Mạnh Diên trong ngục, bị tra khảo mấy ngày, đã khai ra hết. Con ấn của Lục Cảnh Hành do ai lấy, mười hai tờ phiếu xuất kho do ai đóng, đứa con trong bụng Lục thiếu phu nhân là con của ai.
Ngày Lục Cảnh Hành được thả ra khỏi ngục Đại Lý tự, tuyết lại rơi.
Hắn được tuyên vô tội về khoản tham ô, nhưng vì giữ ấn tín không cẩn thận, để kẻ gian lợi dụng gây ra tổn thất cho quân lương, bị cách chức vĩnh viễn, không bao giờ được dùng lại.
Trước khi được thả, Đại Lý tự khanh cho hắn đối chất với Như Yên một lần.
Hôm ấy, Như Yên ngồi trong phòng giam, mặc áo tù màu xám, bụng đã hơi nhô lên, tóc tai rối bời, nhưng ánh mắt thì lạnh tanh. Thấy Lục Cảnh Hành bước vào, nàng ta chẳng hề cúi đầu, chỉ ngẩng lên nhìn hắn, khoé môi khẽ nhếch.
“Biểu ca đến rồi à.”
Lục Cảnh Hành đứng sững trước song sắt, nhìn chằm chằm vào bụng nàng ta, môi run lên mãi mới thốt được một câu:
“Đứa bé… đứa bé là con của ai?”
Như Yên bật cười.
“Biểu ca còn phải hỏi sao? Biểu ca đếm thử xem, mấy tháng nay, có đêm nào biểu ca chạm vào thiếp không? Biểu ca đánh thiếp, mắng thiếp, nằm cạnh thiếp thì gọi tên người khác. Biểu ca tưởng thiếp sẽ ngoan ngoãn sinh con cho biểu ca sao?”
Nàng ta đứng dậy, bước đến sát song sắt, ghé mặt vào, giọng nhỏ nhẹ mà từng chữ như dao:
“Con ấn của biểu ca, là thiếp lấy. Thiếp lấy nó lúc biểu ca say rượu, đem đến phủ Thừa ân công, rồi nằm trong lòng thế tử mà nhìn hắn đóng lên từng tờ phiếu. Biểu ca có biết lúc ấy thiếp nghĩ gì không?” Nàng ta mỉm cười, nụ cười ngọt ngào như ngày đầu gặp mặt. “Thiếp nghĩ, biểu ca gọi thiếp là con chó vô dụng. Vậy thì con chó ấy, cắn chết biểu ca cho biểu ca xem.”
Lục Cảnh Hành lùi lại mấy bước, đâm sầm vào vách tường, trượt dài xuống đất.
Hắn ngồi đó rất lâu, chẳng nói câu nào. Rồi hắn bắt đầu cười, cười mãi, cười đến chảy cả nước mắt, cười đến khi nha dịch phải lôi hắn ra ngoài.
Như Yên bị phán tội trộm ấn tín triều đình, cấu kết với phản thần, lưu đày ba nghìn dặm ra Lĩnh Nam. Ngày nàng ta bị giải ra khỏi kinh thành, tuyết vẫn rơi. Nghe nói đi được hơn một tháng, đến một trạm dịch ở Hồ Nam thì nàng ta sảy thai, mất máu quá nhiều, chết trong một gian chuồng ngựa, trên người chỉ còn tấm áo tù mỏng manh. Quan sai bọc xác nàng ta trong một manh chiếu rách, chôn vội bên vệ đường, chẳng dựng bia, chẳng ai đến thắp hương.
Lục gia, sau trận đòi nợ ngày rước dâu, lại thêm vụ án quân lương, đã chẳng còn gì nữa. Lục lão gia lâm bệnh nặng, chưa qua được tháng chạp đã qua đời. Lục phu nhân khóc mù cả hai mắt, được một người họ hàng xa đón về quê. Nửa phía đông tòa nhà Lục phủ còn lại cũng bị bán đi để lo ma chay.
Lục Cảnh Hành chẳng còn nơi nào để về.
Người ta thấy hắn lang thang khắp các con phố kinh thành, áo quần rách rưới, tóc tai rũ rượi, miệng lẩm bẩm những câu chẳng ai hiểu. Lúc thì hắn ôm một khúc gỗ vào lòng mà ru, gọi là con trai của ta. Lúc thì hắn đứng trước cổng vương phủ, nhìn vào trong rất lâu, rồi cúi xuống nhặt một nắm tuyết, nắn thành hình một chiếc đèn hoa sen, cười ngây ngô, nói Uyển Ninh, đèn của nàng đây. Lúc thì hắn chạy đến cửa sau phủ Thừa ân công đã niêm phong, đập cửa mà gào thét, đòi trả con lại cho hắn.
Thị vệ vương phủ mấy lần định đuổi hắn đi, Uyển Ninh chỉ nói để hắn yên, đừng đánh hắn.
Đêm ba mươi tháng chạp, tuyết rơi dày nhất mùa đông năm ấy.
Người mua lại tòa nhà Lục phủ là một thương nhân ở Giang Nam, chưa kịp dọn đến ở, cổng ngõ vẫn khoá kín. Chẳng ai biết Lục Cảnh Hành trèo qua tường vào bằng cách nào.
Sáng mùng một Tết, người gác cổng đến quét tuyết, phát hiện có dấu chân dẫn vào gian Thính Tuyết hiên ở viện phía đông. Đó là gian phòng nhỏ khuất nhất trong phủ, mái ngói dột nát, giấy dán cửa sổ đã rách tả tơi, lâu lắm chẳng ai ở.
Lục Cảnh Hành nằm trên nền gạch lạnh, ngay cạnh một chiếc lò than nguội ngắt, người co quắp lại, áo quần mỏng manh phủ đầy tuyết lọt qua khe cửa sổ. Tay hắn còn nắm chặt một mẩu gỗ nhỏ khắc dở thành hình chiếc đèn hoa sen, mắt vẫn mở trừng trừng, nhìn về phía bức tường ngăn với gian phòng bên cạnh.
Người gác cổng kể lại, gian phòng ấy lạnh lắm, lạnh đến mức trong lò chẳng còn lấy một hòn than.
Tin Lục Cảnh Hành chết truyền đến vương phủ vào trưa mùng một Tết.
Uyển Ninh đang ngồi bên song cửa, tay cầm kim chỉ, thêu dở một chiếc yếm nhỏ màu đỏ cho trẻ con. Tôn ma ma bước vào, kể lại từng chữ, giọng run run.
Nàng nghe xong, mũi kim khựng lại giữa chừng.
Thính Tuyết hiên. Kiếp trước, đó chính là gian phòng nàng nằm chết. Lò than nguội ngắt ấy, bức tường ngăn ấy, tấm giấy dán cửa sổ rách tả tơi ấy, nàng nhớ rõ từng chút một. Kiếp này, nàng chưa từng bước chân vào Lục phủ, chưa từng ở gian phòng ấy một đêm nào. Vậy mà người đàn ông kia, cuối cùng lại tự mình bò vào đó, nằm đúng chỗ nàng đã từng nằm, chết đúng như nàng đã từng chết.
Nàng ngồi lặng rất lâu, rồi khẽ thở ra một hơi, tiếp tục thêu nốt đường chỉ dở.
“Ma ma,” nàng nói, giọng bình thản, “sai người mang ít bạc đến, lo cho hắn một cỗ quan tài, chôn cạnh mộ Lục lão gia. Đừng nói là vương phủ gửi.”
Tôn ma ma dạ một tiếng, lui ra.
Uyển Ninh cúi đầu nhìn chiếc yếm nhỏ trong tay, đường chỉ đỏ thêu hình hai con cá chép quẫy đuôi, còn chưa xong vây. Nàng đưa tay đặt lên bụng mình, nơi vẫn còn phẳng lì, chưa ai nhìn ra được gì.
Sau lưng nàng, tiếng bước chân vang lên. Tiêu Trầm vừa từ trong cung chúc Tết hoàng thượng trở về, trên vai còn đọng mấy bông tuyết. Chàng cởi áo choàng, bước đến đứng sau lưng nàng, vòng tay ôm lấy nàng từ phía sau, cằm tựa lên vai nàng.
“Ta nghe Tôn ma ma kể rồi,” chàng nói khẽ. “Nàng có buồn không?”
Uyển Ninh lắc đầu.
“Thiếp không buồn,” nàng thật lòng đáp. “Thiếp chỉ thấy, có những món nợ, trời đất tự khắc biết đòi.”
Tiêu Trầm siết nàng chặt hơn, rồi ánh mắt chàng dừng lại trên chiếc yếm nhỏ màu đỏ trong tay nàng. Chàng nhìn rất lâu, rồi nhìn xuống bàn tay nàng đang đặt trên bụng.
Cả người chàng bỗng cứng đờ.
“Ninh Ninh,” chàng gọi, giọng khàn đi, “chiếc yếm này… là thêu cho ai?”
Uyển Ninh quay đầu lại, nhìn chàng, khoé môi khẽ cong lên.
“Sáng nay thái y đến bắt mạch, nói đã được hơn một tháng rồi. Thiếp định đợi chàng về mới nói.”
Tiêu Trầm đứng sững như trời trồng.
Người đàn ông từng giữ Nhạn Môn quan suốt bốn mươi ngày, từng một mình đứng trên Thiên Đàn trước ba nghìn cấm quân mà chẳng hề chớp mắt, lúc này đứng đó, nhìn nàng, môi mấp máy mãi mà không nói nên lời. Rồi chàng quỳ xuống trước mặt nàng, áp tai lên bụng nàng, hai tay ôm lấy eo nàng, ôm thật nhẹ, như sợ chỉ cần dùng sức một chút thôi, sẽ làm vỡ thứ gì đó quý giá nhất trên đời.
“Hơn một tháng,” chàng thì thầm, giọng run run. “Vậy là hôm ở Thiên Đàn…”
“Hôm ấy thiếp cũng chưa biết,” Uyển Ninh đưa tay vuốt lên mái tóc chàng. “Nếu biết, chắc chàng đã chẳng cho thiếp đi.”
“Ta sẽ trói nàng lại trong phòng,” chàng ngẩng lên, đôi mắt đen thẫm đỏ hoe, “trói suốt cả mùa đông.”
Uyển Ninh bật cười, cúi xuống hôn lên trán chàng.
Mùa xuân năm sau, hải đường trong vương phủ nở rộ.
Đó là mấy gốc hải đường Tiêu Trầm sai người đào từ Tô phủ về trồng trong Thanh Phong viện ngay sau Tết. Chàng nói, nàng thích hải đường, thì vương phủ phải có hải đường. Uyển Ninh nhìn mấy gốc cây ấy, nhớ đến lời hứa năm nào dưới một gốc hải đường khác, chợt thấy chẳng còn đau lòng chút nào nữa.
Tiết Thanh minh, Tiêu Trầm đưa nàng về Tây Sơn tảo mộ mẹ.
Xe ngựa đi chậm lắm, chậm đến mức Tôn ma ma ngồi ngoài cũng phải sốt ruột. Tiêu Trầm dặn xa phu, hễ thấy chỗ đường xóc là phải dừng lại, đợi chàng bế vương phi xuống đi bộ qua rồi mới được cho xe đi tiếp. Đi từ sáng sớm, đến quá trưa mới tới Thanh Khê trang.
Châu bá đứng đợi ở cổng, tóc đã bạc hơn năm ngoái, nhưng lưng thì thẳng hơn. Ông nhìn thấy vương phi bước xuống xe, bụng đã hơi nhô lên dưới lớp áo xuân, thì bật khóc, quỳ xuống dập đầu mãi chẳng chịu đứng dậy.
Mộ mẹ nàng nằm trên sườn đồi phía sau vườn trà, cỏ đã được Châu bá cắt gọn gàng, trước mộ có một gốc đào nhỏ đang trổ hoa.
Uyển Ninh quỳ trước mộ, thắp ba nén hương, đặt lên mộ một chiếc hộp gỗ tử đàn đã cũ. Trong hộp là tờ giấy đã ngả vàng với nét chữ thanh tú của mẹ: Nguyện con tìm được người biết thương con.
Tiêu Trầm quỳ xuống bên cạnh nàng, cũng thắp ba nén hương, dập đầu ba lần trước mộ.
“Nhạc mẫu,” chàng nói, giọng trầm và rõ ràng, “con là Tiêu Trầm. Uyển Ninh cứu con một mạng, con lấy cả đời này mà đền cho nàng. Người cứ yên lòng.”
Uyển Ninh quay sang nhìn chàng, nước mắt chẳng biết đã trào ra từ lúc nào.
Chiều hôm ấy, nắng vàng rải khắp sườn đồi trà. Uyển Ninh đi dọc theo luống trà năm xưa, đến đúng chỗ ngày ấy nàng trượt chân ngã đè lên người chàng, thì dừng lại, quay đầu nhìn chàng đang đi phía sau.
“Chàng còn nhớ chỗ này không?”
“Sao ta quên được.” Tiêu Trầm bước đến, vòng tay ôm lấy nàng từ phía sau, hai bàn tay đặt nhẹ lên bụng nàng. “Hôm ấy nàng ngã đè lên người ta, tóc rủ xuống che kín cả mặt ta. Ta nằm dưới nhìn lên, nghĩ thầm cô nương này chắc chắn là nghiệp của ta rồi.”
Uyển Ninh bật cười, tựa đầu vào ngực chàng.
Gió xuân thổi qua đồi trà, mang theo hương trà non ngai ngái, lẫn với hương hoa đào trên mộ mẹ nàng.
“Ninh Ninh,” Tiêu Trầm khẽ gọi.
“Thiếp đây.”
“Giấc mơ ấy, nàng còn mơ thấy nữa không?”
Uyển Ninh im lặng một lúc lâu. Nàng nhớ lại căn phòng không có than, nhớ lại chậu than đỏ rực, nhớ lại cây trâm nứt toác trong lửa. Rồi nàng đưa tay lên, chạm vào cây trâm bạch ngọc hải đường vẫn cài trên tóc mình, nguyên vẹn, không một vết nứt.
“Từ đêm rằm tháng tám năm ngoái,” nàng khẽ đáp, “thiếp chưa mơ thấy nó thêm lần nào nữa.”
Tiêu Trầm không nói gì, chỉ cúi xuống, hôn lên tóc nàng, ngay bên cạnh đoá hải đường chạm trên đầu trâm.
Dưới chân đồi, Châu bá đứng gọi vọng lên, nói cơm đã dọn xong, mời vương gia vương phi xuống dùng bữa kẻo nguội. Bích Đào chạy lên đến lưng chừng đồi, thấy hai người đang ôm nhau giữa luống trà, đỏ mặt quay đầu chạy ngược xuống, suýt nữa thì trượt chân ngã.
Uyển Ninh nhìn theo bóng con bé, bật cười thành tiếng.
Tiêu Trầm nắm lấy tay nàng, mười ngón đan vào nhau, dắt nàng đi chậm rãi xuống đồi, từng bước một, cẩn thận như năm ấy chàng dắt nàng qua từng bậc thềm trong ngày cưới.
(Hết)
Comments for chapter "Chương 7"
BÌNH LUẬN TRUYỆN
Madara Info
Madara stands as a beacon for those desiring to craft a captivating online comic and manga reading platform on WordPress
For custom work request, please send email to wpstylish(at)gmail(dot)com